You are here >   Intro > Truyen_thong_lich_su > View
Register   |  Login
Giữ vững thông tin liên lạc trên khắp các mặt trận (1951-1954)
Cập nhật ngày: 07/06/2010

Ngày 19/12/1946, cuộc kháng chiến chống Pháp toàn quốc nổ ra, Sở Bưu điện Bờ hồ nhận được lệnh phối hợp với thông tin quân sự bố trí người trực thường xuyên điện thoại, điện báo, VTĐ với tư thế chuẩn bị chuyển lệnh theo kế hoạch.

    1. Thông tin liên lạc trong những trận chiến đấu mở đầu

Ngày 19/12/1946, cuộc kháng chiến chống Pháp toàn quốc nổ ra, Sở Bưu điện Bờ hồ nhận được lệnh phối hợp với thông tin quân sự bố trí người trực thường xuyên điện thoại, điện báo, VTĐ với tư thế chuẩn bị chuyển lệnh theo kế hoạch.

Khi giặc Pháp tấn công nhà Bưu điện, Đội tự vệ  Bưu điện Bờ hồ phối hợp với vệ quốc đoàn đã chiến đấu anh dũng quyết tâm bảo vệ nhà Bưu điện. Những cuộc chiến đấu quyết liệt diễn ra trên đường phố Hà Nội giam chân địch trong thành phố suốt một tuần lễ, việc giữ vững GTLL từ ngoài vào, từ trong ra và giữa các đơn vị phối hợp chiến đấu tuy đã có dự kiến trong phương án chuẩn bị, song trong chiến đấu cũng trải qua những khó khăn không dự đóan hết. Một số đơn vị bộ đội và tự vệ chiến đấu được lệnh rút vào Liên khu I là nơi được chọn làm trọng điểm để kháng chiến trong thành phố, đầy ngõ ngách, nhà nọ đục tường nối thông sang nhà kia làm thành đường liên lạc rất thuận tiện cho việc tổ chức chiến đấu theo chiến thuật du kích. Một số khác rút ra ngoài thành bọc phía ngoài không cho địch nống ra khỏi Hà Nội, thực hiện trong đánh ngoài vây. Lực lượng chiến đấu rút khỏi đến đâu thì liên lạc mất chỗ dựa, mất liên lạc đến đó. Bằng mọi cách phải giữ được liên lạc giữa Bộ chỉ huy chiến khu với Liên khu I theo 2 phương thức VTĐ và GTLL chạy bộ thì mới có thể kéo dài cuộc chiến đấu trong thành phố.

Ban GTLL tổ chức phục vụ chiến đấu ở Liên khu I gồm có một tiểu đội nam, một tiểu đội nữ, gần 40 thiếu niên làm liên lạc. Phương tiện thông tin liên lạc là giao thông chạy bộ và một điện đài 15W. Nhiệm vụ của Ban Giao thông là đảm bảo liên lạc của Đảng, quân, chính của Liên khu với Thành ủy và ngược lại, giữa các cơ quan lãnh đạo của khu vói các phòng tuyến chiến đấu, đưa đón cán bộ từ trong ra, từ ngoài vào, đưa đồng bào bị tắc nghẽn tiếp tục đi tản cư và tiếp tế lương thực, thực phẩm từ ngoài vào cho quân ta ở Liên khu I. Quân, dân thủ đô Hà Nội và Liên khu I chiến đấu bám trụ giam chân địch được gần 2 tháng. Trong thời gian đó, thông tin liên lạc đã phục vụ kịp thời việc chỉ huy và lãnh đạo của mặt trận Hà Nội. Đây là thắng lợi mở màn rất có ý nghĩa của quân, dân ta, trong đó thông tin liên lạc đã có phần đóng góp rất xứng đáng của mình.

    2. Đảm bảo thông tin liên lạc ở khu căn cứ địa Việt Bắc và các địa phương

Cùng với Hà Nội, quân và dân ở khắp các tỉnh khi nhận được lệnh đều nhất tề nổ súng kháng chiến. Trong các trận chiến, thông tin điện thoại, giao thông chạy bộ hỏa tốc tổ chức chặt chẽ, giữ vững thông tin liên lạc phục vụ đắc lực cho việc chỉ huy chiến đấu tiêu diệt sinh lực địch. Trong khi quân dân ta đánh địch ở các thành phố, đô thị thì các bộ phận bưu điện, GTLL các nơi đó tiếp tục di chuyển các máy móc thiết bị thông tin đến địa điểm đã định để làm nhiệm vụ thông tin liên lạc phục vụ kháng chiến lâu dài.

Ngày 21/1/1947, Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã ký sắc lệnh số 07/SL bổ nhiệm ông Nguyễn Văn Đạt làm Tổng giám đốc Nha Bưu điện kể từ ngày 17/12/1946 thay ông Nguyễn Tường Thụy bị truy tố trước pháp luật về tội sử dụng trái phép tài sản của Nhà nước.

Ngày 28/6/1947, Bộ Giao thông Công chính đã ban hành Nghị định số 335/NĐ tổ chức lại ngành Bưu điện thành 3 Nha Bưu điện trong cả nước: ở TW có Nha Tổng giám đốc, dưới Nha Tổng giám đốc có 3 Nha Giám đốc 3 miền: Nha giám đốc Bưu điện Bắc Bộ, Nha giám đốc Bưu điện Trung bộ và Nha Giám đốc Bưu điện miền Nam.

Giữa tháng 8/1947, Bộ trưởng Bộ Giao thông công chính và Tổng giám đốc Nha Bưu điện Nguyễn Văn Đạt đi thanh tra công tác giao thông bưu điện. Sau chuyến thanh tra này, Tổng Giám đốc nha Bưu điện đã xem xét lại toàn bộ hệ thống bưu chính-điện chính chủ yếu là đường thư, đường điện từ Việt Bắc đến các khu, đề ra kế hoạch củng cố các trạm dọc đường trục, trang bị thêm phương tiện cho giao thông viên, điện tuyến viên, tạo điều kiện làm việc để đảm bảo đường thư, đường điện thoại giữ được liên lạc từ TW đến các khu, tỉnh trong vùng kháng chiến. Thời gian này trang thiết bị còn thô sơ, lạc hậu, chỉ có 02 tổng đài từ thạch 20 số, máy điện thoại là loại sản xuất từ năm 1910, dây là loại dây “xúp” nhiều cỡ… nhưng anh em đã đồng lòng, đồng sức vượt qua mọi gian khổ, khắc phục khó khăn, đi đến đâu là rải dây mắc máy phục vụ ngay. Anh chị em giao liên luôn luôn bám sát các cấp ủy, ủy ban từ tỉnh đến huyện và các ban ngành để sẵn sàng phục vụ.

Tại miền Trung, để đảm bảo thông tin liên lạc được chặt chẽ, thông suốt phục vụ tốt cho cuộc kháng chiến. Ban GTLL tổ chức các trạm nối liền các huyện với các tỉnh và các liên khu. Năm 1947, Ban GTLL kháng chiến được thành lập, bên cạnh đó còn có Ban Hỏa tốc của Tỉnh ủy, các tuyến liên lạc dần dần được xây dựng và ngày càng mở rộng. Các trạm liên lạc kháng chiến ở các huyện được thành lập.

Miền Trung là trung tâm đầu não của chế độ thực dân phong kiến, nơi đây tập trung đủ loại tay sai phản động. Ngành Bưu điện cũng chịu chung tình hình phức tạp đó, vì vậy việc tổ chức mạng lưới thông tin liên lạc gặp khá nhiều khó khăn. Mãi đến tháng 4/1947 Ban GTLL kháng chiến mới được thành lập. Sau khi thành lập Ban GTLL kháng chiến, việc quan trọng nhất là phải nối thông tuyến liên lạc Bắc-Nam.

Song song với việc thành lập Ban GTLL kháng chiến ở các tỉnh, Xứ ủy và Tỉnh ủy rất chú trọng củng cố lại các đài VTĐ. Lúc đầu chỉ có một đài VTĐ phục vụ đ/c Nguyễn Chí Thanh mang mật danh CK10, dùng máy thu phát MKII 15W do Anh chế tạo làm nhiệm vụ liên lạc với TW, Khu ủy khu V.

Để phục vụ tốt các yêu cầu của cuộc kháng chiến, mạng lưới GTLL ngày càng được phát triển và nâng cao chất lượng. Phát hành thường xuyên phục vụ rộng rãi và nhanh chóng trong việc chuyển đưa tin tức và các tờ báo như Phấn đấu, Chí trai, Công đoàn. Sau khi Pháp đánh chiếm Nha Trang, đường ô tô và đường sắt không sử dụng được nữa, lợi dụng Pháp kiểm soát chưa chặt chẽ đường biển, chúng ta dựa vào thuyền buôn, thuyền đánh cá của nhân dân tổ chức tuyến đường liên lạc trên biển.

Lực lượng của Ban Giao thông Kháng chiến được tuyển chọn từ trong Đảng viên và các đoàn viên thanh niên cứu quốc gồm những người trung thành, tận tụy, tạo nên một lực lượng tin cậy của cách mạng. Nhiệm vụ của Ban giao thông kháng chiến là sử dụng các hình thức tổ chức thích hợp với tình hình của cuộc kháng chiến – giữa thế và lực của ta, địch, bằng các phương thức thông tin liên lạc: đi bộ, xe đạp, điện thoại, VTĐ để vận chuyển công văn, tài liệu, vũ khí, truyền đưa các mật điện, đưa đón cán bộ, dân công giữa các vùng kháng chiến và trong vùng kháng chiến với vùng địch tạm chiếm. Trong đó nhiệm vụ trọng yếu là giữ vững thông tin liên lạc từ TW đến các khu, tỉnh đến huyện, xã trong cả nước và ngược lại để phục vụ Đảng, chính quyền từ TW đến địa phương lãnh đạo và chỉ đạo kháng chiến.

Qua phục vụ chiến dịch Thu – Đông năm 1947, công tác thông tin liên lạc ở căn cứ Việt Bắc đã trải qua một thử thách lớn, lập nhiều thành tích, được rèn luyện và trưởng thành.

3.Thống nhất lực lượng, tăng cường sức mạnh phục vụ yêu cầu kháng chiến chuyển sang giai đoạn mới

 Sau thất bại Thu – Đông năm 1947 ở Việt Bắc, địch  phải chuyển hướng chiến lược từ đánh nhanh thắng nhanh sang đánh kéo dài, củng cố phạm vi chiếm đóng, dùng chính sách “Lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt”. Trước âm mưu của địch, TW Đảng nhận xét về công tác GTLL “…Liên lạc thông tin chưa hoàn thiện…” và đề ra nhiệm vụ mới:”…Cải thiện giao thông liên lạc…”.

Để chấn chỉnh công tác GTLL, đầu năm 1948 TW Đảng cho sáp nhập Ban phân phối tài liệu của Tổng bộ Việt Minh vào Ban Giao thông kháng chiến TW. Sau đó điều các đ/c Vũ Văn Quý, Trần Quang Bình, Phan Văn Chính, Nam Sơn, Nguyễn Xuân Huỳnh là những cán bộ trung, cao cấp của Đảng bổ sung vào Ban giao thông kháng chiến TW. Đ/c Trần Quang Bình được bổ nhiệm làm Trưởng ban thay đồng chí Trần Triệu đi nhận công tác khác, đ/c Vũ Văn Quý làm Phó trưởng ban thường trực.

Ban còn có 6 ủy viên, trong đó đ/c Trần Hòa trước là Trưởng ban Giao thông, trưởng ban VTĐ này là ủy viên trực tiếp làm trong Ban Hỏa tốc. Khi đ/c Trần Hòa được điều chuyển đến công tác, đ/c Phan Văn Chính ủy viên Ban là Trưởng ban Hỏa tốc thay đ/c Trần Hòa và tiếp sau là Trưởng ty bưu điện đặc biệt. Các đ/c ủy viên khác đều được giao nhiệm vụ mỗi người phụ trách một lĩnh vực về giao thông liên lạc.

        Tổ chức Ban GTLL gồm:

1.    Ban Giao thông TW (GTTW) đảm trách việc trong an toànkhu (ATK)

2.    Ban VTĐ (Ban liên lạc TIV)

3.    Phòng liên lạc miền Nam

        Địa điểm của Ban thường thay đổi trong 3 huyện Định Hóa, Đại Từ, Chiêm Hóa.

Cùng với việc củng cố tổ chức chyên môn, ngày 30/8/1947, tại Lập Thạch (Vĩnh Phú), Hội nghị thành lập Công đoàn Bưu điện Việt Nam đã họp và cử ra Ban chấp hành lâm thời gồm các đ/c: Hoàng Bắc Chánh làm thư ký, Hàn Văn Định là ủy viên, Vũ Huy Hoan là ủy viên. Sự ra đời của CĐBĐ VN đánh dấu một bước trưởng thành của giai cấp công nhân Bưu điện Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Công đoàn đã tham gia vận động giáo dục công nhân viên chức tinh thần yêu nước, chí căm thù giặc, hăng hái thi đua khắc phục khó khăn, gian khổ đảm bảo thông tin liên lạc thông suốt trong cả nước.

Song song với việc chấn chỉnh công tác GTLL của Đảng, Chính phủ chủ trương phải củng cố lại ngành Bưu điện tạo điều kiện cho Ngành phục vụ tốt hơn. Để việc lãnh đạo và chỉ đạo công tác Bưu điện ở các tỉnh được sát sao, chặt chẽ, giúp Bưu điện các địa phương phục vụ yêu cầu thông tin liên lạc, Bộ Giao thông Công chính chủ trương ngành Bưu điện tổ chức hệ dọc theo phân khu kháng chiến của Chính phủ. Đầu năm 1948, bãi bỏ 3 Nha Bưu điện: Bắc Bộ, Bắc phần Trung Bộ, miền Nam và thành lập các Liên khu Bưu điện. Ở Bắc bộ và Trung Bộ thành lập các Liên khu Bưu điện I, II, III, IV, V. Sau đó lại đổi các Liên khu trên thành các Liên khu Việt Bắc, Liên khu III, IV, V.

Trước đó, các tỉnh đã tổ chức lại, mỗi tỉnh có Ty Bưu điện tỉnh đều trực thuộc Khu Bưu điện. Ty Bưu điện tỉnh phụ trách các phòng trạm trong tỉnh là Ty Bưu điện chính. Ít lâu sau các Ty Bưu điện khác đổi thành phòng hạng nhất, các phòng này vẫn thuộc Khu Bưu điện. Tiếp theo tất cả các phòng Bưu điện hạng nhất, nhì, trạm bưu điện tỉnh đều trực thuộc Ty Bưu điện do Trưởng ty điều hành công việc, không còn phòng loại trực thuộc khu Bưu điện như trước. Một số Ty Bưu điện được thay đổi tên gọi: Ty Bưu điện Hà Nội thành Ty Bưu điện đặc biệt Hà Nội, Ty Bưu điện Huế thành Ty Bưu điện thừa Thiên – Huế.

Tuy ngành Bưu điện và Ban GTLL được chấn chỉnh, hoạt động đều nhằm đáp ứng yêu cầu thông tin liên lạc phục vụ Đảng, chính quyền các cấp và nhân dân nhưng lại cùng song song tồn tại 2 tổ chức, 2 mạng lưới thông tin liên lạc, làm cho tổ chức phân tán không hợp lý, không đủ mạnh để đáp ứng đòi hỏi của cuộc kháng chiến ngày một cao. Tháng 5/1948, Bộ Giao thông Công chính ra quyết định hợp nhất Ban Giao thông kháng chiến với Bưu điện nhằm thống nhất và hợp lý tổ chức thông tin liên lạc, cải tổ cơ cấu bộ máy Bưu điện, thực hiện sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng đối với ngành Bưu điện, làm cho ngành trở thành một cơ quan đủ tư cách đại diện Nhà nước thống nhất quản lý, điều hành ngành thông tin liên lạc trong cả nước. Tuy vậy, việc hợp nhất mới thực hiện được ở TW, các Khu III, IV, V và một số tỉnh phía Bắc. Riêng các tỉnh miền Nam, Bưu điện không còn tồn tại từ 23/9/1945. Ban Bưu – Vận được thành lập thay thế làm nhiệm vụ chyển công văn tài liệu, lương thực, thực phẩm, vũ khí, đưa đón cán bộ, bộ đội phục vụ kháng chiến ở vùng tự do và vùng địch tạm kiểm soát.

Ở TW sau khi hợp nhất Ban Giao thông Kháng chiến với Bưu điện lấy tên là Nha Bưu điện Việt Nam do Tổng giám đốc Nguyễn Văn Đạt và Phó tổng giám đốc Trần Quang Bình, Trưởng Ban giao thông kháng chiến TW quản lý và điều hành công việc của ngành Bưu điện. Các phòng Bưu vụ, Điện vụ (cả VTĐ), Tổ chức nhân sự, Kế toán vật liệu, Hành chính… Cơ quan Văn phòng Nha được củng cố, tăng cường cán bộ chủ chốt của Đảng.

Trong thời kỳ này, Nha bưu điện cho biên soạn lại các thể lệ, thủ tục bưu vụ, ngân vụ, điện thoại, điện báo, chế độ quản lý đường thư nhằm quy định những nguyên tắc và tháo tác đơn giản mà vẫn đảm bảo được bí mật trong quá trình hoạt động. Đặc biệt thể lệ điện báo, điện thoại đã quy định dùng các chữ cái La tinh vào việc chuyển các bức điện và dùng các chữ cái thay dấu (f-huyền, s-sắc, j-nặng, r – hỏi, x-ngã). Ngoài ra còn ban hành các văn bản quy định cụ thể một số điểm và hướng dẫn thực hiện các chế độ kế toán tài chính của Nhà nước trong ngành.

Ở TW, Bộ Giao thông Công chính thành lập Trường Cao đẳng Giao thông Công chính, trong đó có khoa hữu tuyến, VTĐ, bưu chính đào tạo cán bộ trung cấp cho ngành Bưu điện. Nha Bưu điện mở các lớp nghiệp vụ, kỹ thuật, kế toán, tài chính cho các Trưởng Ty Bưu điện gồm các môn: bưu vụ, ngân vụ, đường thư, điện thoại, điện báo, VTĐ… và mở các lớp bổ túc văn hóa, sơ cấp nghiệp vụ kỹ thuật để đào tạo những cán bộ và giao thông viên có nhiều thành tích xuất sắc trở thành những cán bộ nghiệp vụ chủ chốt cho Ngành.

Trong quá trình hợp nhất, Công đoàn ngành Bưu điện đã phát huy vai trò của mình qua việc phát động phong trào thi đua yêu nước từ Nha đến các Bưu điện Liên khu, tỉnh, giáo dục, động viên cán bộ công nhân viên đoàn kết giúp đỡ nhau trong công tác với mục tiêu đẩy mạnh mọi hoạt động trong toàn Ngành, giữ vững thông tin liên lạc từ TW đến các chiến khu, các tỉnh, giữa vùng kháng chiến với vùng địch tạm chiếm…Đặc biệt thời gian này, đ/c Châu Văn Huy ở cơ xưởng Bưu điện Liên khu IV đã tháo những máy hỏng thu nhặt những phế liệu, sử dụng gỗ mit làm vỏ máy, lắp được chiếc máy điện thoại đầu tiên trong kháng chiến để kính dâng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Sau khi hợp nhất Ban Giao thông Kháng chiến với Bưu điện đã làm cho ngành Bưu điện lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng, năng lực thông tin liên lạc phát triển cả chiều sâu lẫn chiều rộng, phục vụ kháng chiến, phục vụ nhân dân ngày một tốt hơn, xứng đáng với sự tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

    4. Thông tin liên lạc được giữ vững trên phạm vi cả nước

Vào giữa năm 1949, phong trào chiến tranh du kích của ta ngày càng phát triển rộng khắp, mạnh mẽ. Để phục vụ cho nhiệm vụ phát động chiến tranh du kích, phá kế hoạch bình định của địch, Ban cán sự Đảng và Nha Bưu điện xác định ngoài phương tiện liên lạc VTĐ, điện thoại, vị trí của lực lượng giao thông chạy bộ trong điều kiện này vô cùng quan trọng. Các trạm giao thông, các đường thư chạy bộ, các cơ sở trong nhân dân nhất là vùng địch tạm chiếm, được nhanh chóng củng cố và mở rộng từ TW đến các Liên khu, tỉnh, huyện và xã, tạo nên mạng GTLL liên hoàn từ trên xuống thường xuyên giữ vững thông tin phục vụ TW Đảng, Chính phủ, Bộ Tổng tư lệnh lãnh đạo và chỉ đạo phá tan âm mưu bình định của địch.

Tháng 7/1947, Ban liên lạc Nam Trung Bộ được thành lập do đ/c Quách Sang làm Trưởng ban. Ban có nhiệm vụ nối đường liên lạc với liên khu IV và với Nam Bộ qua Phòng Liên lạc miền Nam. Tiếp sau đó, Ban Liên lạc các tỉnh trong liên khu cũng lần lượt được hình thành tại các tỉnh Nam trung Bộ, hầu hết các trưởng phó ban liên lạc từ khu đến tỉnh đều do Đảng cử sang làm nhiệm vụ. Ủy ban Hành chính Kháng chiến tỉnh quản lý về mặt hành chính, Ban Liên khu và miền Nam hướng dẫn chuyên môn.

Ở cấp khu có Phòng Liên lạc đặc biệt phục vụ các cơ quan khối Đảng, chính quyền và Bộ tư lệnh Liên khu V.  Về phần mở đường liên lạc ngoài các Ban Liên lạc cấp tỉnh ra, ở Liên khu còn có:

- Phòng Nam Thiên (Quảng Nam – Thừa Thiên) đặt tại chiến khu Dương Hòa và Nam Đông để tiếp nhận công văn sách báo, vật liệu do Liên khu IV chuyển vào và chuyển tiếp về Liên khu V.

- Phòng Giao thông vận tải thủy đóng ở An Tân để tiếp nhận vật liệu từ Khu 4 chyển vào.

Ở mỗi Ban Liên lạc tỉnh có một số cán bộ làm công tác tìm đường, xây dựng trường, đặt trạm bí mật qua các vùng địch tạm chiếm. Có trạm liên tỉnh trên các đường dự bị, sao cho đường liên lạc giữa các tỉnh được giữ vững trong mọi tình thế. Đường liên lạc ở mỗi tỉnh, ngoài đường bộ còn có đường thủy đi ven biển bằng thuyền các trọng tải trên dưới 1 tấn để hỗ trợ cho đường bộ. Phòng Liên lạc đặc biệt ngoài nhiệm vụ như đã nói trên còn có một số giao thông viên, hầu hết là Đảng viên trung kiên được chọn để làm nhiệm vụ liên lạc giữa cơ quan với cán bộ lãnh đạo cao cấp với Đài Phát thanh Tây Sơn và cơ sở in tín phiếu bí mật khi đóng ở Bình Định và ở Quảng Ngãi. Lực lượng này còn phải chọn những đ/c có sức khỏe để đưa đón cán bộ cao cấp đi Liên khu IV hoặc vào cực Nam Trung Bộ. Đ/c Trần Huyến làm Trưởng phòng đặc biệt, khi tập kết ra Bắc làm Hiệu trưởng trường trung cấp Nam Hà.

Tháng 5/1950, việc hợp nhất Bưu điện với Ban GTLL được đồng thời tiến hành từ khu đến các tỉnh thành trong liên khu. Một hệ thống tổ chức được gọi là Bưu điện vận tải được hình thành từ khu đến cơ sở. Sau đó công tác vận tải được chuyển sang phòng cung cấp thuộc Bộ tư lệnh Liên khu.

Đầu năm 1951, được sự quan tâm của Liên khu ủy, một số đ/c đã được tăng cường sang Bưu điện, một số huyện ủy viên được cử sang làm trưởng ty thay các chủ sự bưu điện hoặc làm trưởng phòng bưu điện loại I. Một số chi ủy viên sang làm các trưởng trạm bưu điện. Từ đó bộ máy bưu điện vận tải vững mạnh hơn.

Ở Nam Bộ, Khu VII, khu VIII, khu IX chỗ nào cũng là tiền phương của ta đồng thời hậu phương của chiến trường, địch lại thực hiện kế hoạch Đờ-la-tua (rút những khu vực hẻo lánh khó giữ, dùng công giáo vũ trang chống lại cách mạng, hợp tác với các giáo phải Cao Đài, Hòa Hảo, dùng chiến thuật đồn bốt, tháp canh và kiểm soát kinh tế vùng Hậu Giang) nhằm chia cắt chiến trường của ta để dễ dàng tiến hành bình định, vì vậy công tác GTLL gặp muôn vàn khó khăn. Song với những hoạt đồng gan dạ, mưu trí đối phó với địch hết ngày này qua ngày khác, tháng này qua tháng khác, năm này qua năm khác của anh chị em giao thông đã làm nên những kỳ tích của Ngành, tuy không ít anh chị em đã hy sinh, không ít giao thông viên bị địch bắt và tù đày. Các đường thư từ Bắc vào Nam, từ TW đến các Liên khu, các tỉnh, huyện, xã ở vùng rừng núi, trung di, đồng bằng – vùng tự do cho đến vùng địch kiểm soát, thời gian này đã liên kết thành một hệ thống nhất, được chỉ đạo và tổ chức chặt chẽ. Do đó đã giữ vững được GTLL phục vụ đắc lực chủ trương của Đảng, Chính phủ, phá vỡ kế hoạch Rơ–ve, bình địch vùng tạm chiếm của địch. Đó là hiệu quả bước đầu chứng minh việc hợp nhất Ban Giao thông kháng chiến với bưu điện là phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ chiến lược của kháng chiến.

Trước những chuyển biến mau lẹ và thuận lợi của cuộc kháng chiến đối với ta, âm mưu của địch càng trở nên xảo quyệt. Chúng tung quân đánh chiếm  một số đường giao thông quan trọng hòng chia cắt 3 miền Bắc-Trung-Nam, giữa vùng tự do và vùng địch hậu. Chúng thực hiện ý đồ tiêu diệt lực lượng chủ lực của ta và giành thế chủ động trên chiến trường.

Để đối phó với âm mưu của địch, ngày 27/5/1949, Ban cán sự Đảng triệu tập hội nghị Cán bộ Giao thông TW và đề ra chủ trương chấn chỉnh thông tin liên lạc hiện có của Bưu điện với biện pháp cụ thể bằng cách phân chia thành 2 bộ phận với yêu cầu ưu tiên khác nhau:

-             Ban Thư tín: Đảm nhận khai thác, chuyển vận những công văn, tài liệu thường của các cơ quan, đoàn thể quần chúng và thư từ của nhân dân theo các đường thư liên tỉnh, nội tỉnh hiện có.

-             Ban Hỏa tốc: Đảm nhận chuyển các công văn tài liệu đặc biệt, khẩn cấp, bí mật của Đảng, các cơ quan đầu não các cấp chính quyền, đưa đón cán bộ, chuyển tiền mặt và các tặng phẩm đi các địa phương. Ban này tổ chức thành hệ thống riêng từ TW đến các Liên khu, tỉnh, huyện, xã không chỉ ở vùng tự do mà còn vào sâu trong vùng địch chiếm đóng.

Ở Nha Bưu điện thành lập Ban Hỏa tốc TW. Đường thư Hỏa tốc cũng tổ chức từ TW qua các Liên khu để đến liên khu V, từ đó chuyển tiếp vào Nam Bộ. Dọc đường thư này đã đặt các trạm để chạy tiếp sức. Đặc điểm của giao thông hỏa tốc là bất cứ ngày, đêm có công văn hỏa tốc là phải lên đường ngay. Những trường hợp đặc biệt thì chạy thẳng từ TW đến Liên khu V nên có những chuyến thư giao thông viên phải đi mất 2,3 tháng mới trở về trạm xuất phát.

Ở Bưu điện các Liên khu có Ban Giao thông hỏa tốc do đ/c Trưởng ban hoặc phó ban Giao thông kháng chiến kiêm Trưởng ban để tổ chức phụ vụ Khu ủy, Ủy ban hành chính Kháng chiến liên khu, chuyển thẳng công văn hỏa tốc trong căn cứ liên khu đến các tỉnh và lên TW.

Ở Bưu điện các tỉnh có Phòng giao thông hỏa tốc do Trưởng ban hoặc Phó ban Giao thông kháng chiến làm Trưởng phòng để trực tiếp tổ chức phục vụ Tỉnh ủy, Ủy ban Hành chính Kháng chiến tỉnh… chuyển thẳng công văn hỏa tốc đến các cơ quan căn cứ tỉnh, huyện và khu.

Trên cơ sở thắng lợi trong 2 năm 1948-1949 và thắng lợi quan trọng về ngoại giao, mùa hè 1950 Ban Thường vụ TW Đảng chủ trương mở chiến dịch Biên giới nhằm mục đích: tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc, giải phóng vùng biên giới phía Bắc nước ta. Trước tình hình mới, ngành Bưu điện cần được tăng cường củng cố để đáp ứng yêu cầu thông tin liên lạc. Tháng 5/1950, Hội nghị giao thông TW lần thứ 2 đề ra nhiệm vụ phải kiên quyết hợp nhất Giao thông Kháng chiến với Bưu điện trong cả nước, lấy Ban giao thông Kháng chiến làm nòng cốt. Đảng bổ sung cho Bưu điện nhiều cán bộ lãnh đạo để chấn chỉnh thống nhất từ trên xuống dưới làm cho bộ máy thông tin liên lạc thống nhất đủ sức mạnh để phục vụ kháng chiến thắng lợi.

Tháng 6/1950, Ban cán sự Đảng và Nha Bưu điện thành lập Ty Bưu điện đặc biệt ở ATK vùng căn cứ địa Việt Bắc do đ/c Phan Văn Chính làm Trưởng ty.

Ở các Liên khu có phòng Bưu điện đặc biệt, phục vụ căn cứ liên khu và chuyển vận các công văn tài liệu hỏa tốc đặc biệt cho TW và các tỉnh trực thuộc.

Ở tỉnh có trạm Bưu điện đặc biệt phục vụ căn cứ tỉnh và chuyển công văn hỏa tốc đặc biệt đến các huyện và nối với đường thư đặc biệt của Liên khu.

Hệ thống Bưu điện đặc biệt, thay thế hệ thống hỏa tốc với nhiệm vụ nặng nề và rộng lớn hơn, trong đó có cả nhiệm vụ mà hệ thống hỏa tốc đảm nhiệm trước đây.

Tiếp đó, Ty Bưu điện đặc biệt thành lập phòng 28 và 07 trạm mang số hiệu: 50, 54, 55, 62, 63, 114, 115. Trên đường thư trục Liên khu III, IV thành lập các trạm mang số hiệu: 32, 110, 111, 112.

Trên đường thư biên giới phía Bắc thành lập các trạm mang số hiệu: 115, 116, 157, 158, 159, 180. Các trạm và đường thư biên giới do Nha Bưu điện trực tiếp tổ chức và quản lý. Nha cử đ/c Vũ Văn Quý làm Phó trưởng ban Giao thông kháng chiến và là Trưởng phòng 4 của Nha phụ trách chung. Các trạm và đường thư đặc biệt này đến giữa năm 1951 thì Nha hoàn toàn cho Ty Bưu điện đặc biệt đảm nhiệm. Cùng với mạng lưới GTLL, thông tin điện thoại cũng được củng cố và phát triển góp phần phục vụ TW Đảng, Chính phủ, phục vụ kháng chiến.

Sau lần chấn chỉnh này, ngành Bưu điện đã thật sự thay đổi về chất. Đảng đã lãnh đạo ngành Bưu điện từ TW đến các Liên khu, tỉnh, huyện, xã. Bưu điện đã phục vụ sự chỉ đạo của Đảng, chính quyền các cấp ở vùng tự do, vùng địch hậu, trong việc chuyển công văn, tài liệu, đưa đón cán bộ, góp phần giúp các địa phương nắm được chủ trương của TW kịp thời chỉ đạo đánh địch khắp nơi, ngăn chặn địch tiếp viện cho mặt trận biên giới, góp công vào chiến thắng chiến dịch.

Sau khi hợp nhất giao thông kháng chiến với Bưu điện, mạng lưới VTĐ của Đảng trong Ban giao thông Kháng chiến ở các cấp cũng thuộc quyền quản lý của ngành Bưu điện, nhưng do cấp ủy trực tiếp lãnh đạo. Năng lực thông tin liên lạc của Bưu điện được nâng lên rõ rệt. Qua thử thách của những năm kháng chiến gay go, quyết liệt, mạng lưới VTĐ cũng thể hiện tính ưu việt  của phương thức thông itn này. Dù địch dùng mọi âm mưu ngăn chặn và đánh phá, nhưng tín hiệu từ các điện đài của TW vẫn vút lên không trung đến với các điện đài của các Liên khu và Nam bộ. Thông tin VTĐ thật sự đóng vai trò quan trọng đảm bảo thông tin liên lạc nhanh và kịp thời trong cả nước. Mạng lưới VTĐ thời kỳ này được thiết lập hầu hết ở các Liên khu, một số tỉnh Bắc Bộ và Liên khu V. Năm 1950, TW Đảng quyết định thành phố Hà Nội trở thành khu đặc biệt do đ/c Trần Quốc Hoàn làm Bí thư. Ban cán sự Đảng và Nha Bưu điện cho thành lập Ban VTĐ đặc biệt trực thuộc Ty Bưu điện đặc biệt làm nhiệm vụ giữ liên lạc giữa TW Đảng với thành ủy Hà Nội. Tổ chức mạng lưới VTĐ liên lạc giữa vùng tự do với vùng địch kiểm soát để TW Đảng và Thành ủy chỉ đạo quân, dân đấu tranh phá chính quyền ngụy, phá hội tề phản động, diệt bọn tay sai chỉ điểm, xây dựng và bảo vệ cơ sở kháng chiến trong lòng địch.

Riêng Nam Bộ, đặc điểm ở vùng đồng bằng có nhiều sông, kênh, rạch, quân dân Nam Bộ lại phải tiến hành cuộc kháng chiến chỉ sau một tháng giành chính quyền, chưa có điều kiện chuẩn bị, địch lại ở thế mạnh đã chiếm được các thị xã, thị trấn và các đường giao thông quan trọng. Trong điều kiện đó, Xứ ủy miền Nam đã sớm có chủ trương phát triển thông tin VTĐ để phục vụ sự lãnh đạo của Đảng chỉ đạo quân, dân miền Nam kháng chiến.

Như vậy đến thời kỳ này, mạng lưới VTĐ từ các khu phát triển đến tất cả các tỉnh và một số huyện trọng điểm đã liên lạc thường xuyên với nhau. Đặc biệt là điện đài của Xứ ủy và Bộ Tư lệnh miền Nam làm việc đều đặn, đúng phiên liên lạc với các điện đài TW Đảng, Chính phủ và Bộ Tổng tư lệnh. Nó trở thành phương tiện thông tin nhanh nhất giúp thường vụ TW Đảng, Chính phủ và Bộ Tổng tư lệnh lãnh đạo trực tiếp cuộc kháng chiến anh dũng của quân và dân Nam Bộ.

Thông tin VTĐ là phương thức thông tin thuận lợi và nhanh nhất. Nhưng có nhược điểm dễ bị lộ bí mật vì địch có thể bắt được sóng, thu được tín hiệu điện đài. Để khắc phục nhược điểm này, bảo đảm bí mật, an toàn, Ban VTĐ các cấp đã thực hiện việc tổ chức gọn, nhẹ, cơ động, luôn thay đổi mật mã và bố trí người tin cậy. Do đó, điều kiện làm việc và sinh hoạt của anh chị em làm công tác VTĐ gặp nhiều khó khăn, gian khổ và nguy hiểm. Ngoài việc phục vụ chính trị, quân sự, thời kỳ này VTĐ còn phục vụ được mặt trận kinh tế, chuyển nhận những bức điện về dự báo thời tiết phục vụ nông nghiệp và đời sống nhân dân, phục vụ giao thông vận tải chuyển vận vũ khí, lương thực, thực phẩm ra tiền tuyến.

Qua 4 năm phục vụ cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc, lực lượng thông tin liên lạc đã trải qua nhiều thử thách, rèn luyện và không ngừng vươn lên. Với những kinh nghiệm và bài học rút ra từ thực tiễn, với đội ngũ được củng cố và tăng cường, toàn Ngành sẵn sàng cùng quân dân cả nước chuyển sang yêu cầu mới của cuộc kháng chiến.

Ý kiến của bạn Gửi cho bạn bè In bài này Trở lại