You are here >   Intro > Truyen_thong_lich_su > View
Register   |  Login
PHỤC VỤ CHỐNG CHIẾN TRANH PHÁ HOẠI CỦA ĐẾ QUỐC MỸ Ở MIỀN BẮC VÀ CHI VIỆN CHO MIỀN NAM, XÂY DỰNG MẠNG LƯỚI THÔNG TIN LIÊN LẠC TRONG ĐIỀU KIỆN CÓ CHIẾN TRANH
Cập nhật ngày: 30/06/2010

I.                  Đảm bảo thông tin liên lạc đánh thắng trận đầu chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ

Trong khi miến Bắc hăng hái thi đua lao động sản xuất thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, thì ở miền Nam đồng bào ta đẩy mạnh cuộc đấu tranh anh dũng chống chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ. Trước nguy cơ sụp đổ của ngụy quân ngụy quyền, đế quốc Mỹ một mặt tăng cường chiến tranh xâm lược miền Nam, mặt khác tăng cường tung gián điệp biệt kích phá hoại miền Bắc.

Trước tình hình đó, Tổng cục Bưu điện chấp hành chỉ thị của Bộ Chính trị, TW Đảng về tăng cường kế hoạch đảm bảo thông tin liên lạc, cử nhiều cán bộ kỹ thuật để giúp các Sở, Ty hoàn chỉnh kế hoạch đảm bảo thông tin, sẵn sàng chiến đấu đề phòng địch tập kích phá hoại bằng không quân, hải quân. Mạng lưới thông tin dự phòng được tiến hành khẩn trương, dịch chuyển đường dây ra xa những nơi xung yếu như cầu phà, chuẩn bị địa điểm để di chuyển các đầu mối mạng lưới đường thư khi cần thiết. Xây dựng cơ sở dự bị đặt máy phát công suất nhỏ nhưng đảm bảo sóng gốc để nhờ bạn tiếp âm, các tỉnh thành tổ chức thêm đài VTĐ dự phòng ngoài việc bổ sung, cải tạo thiết bị ở các trạm thu, phát đã có từ trước. Tại các địa phương tăng cường công tác bảo vệ đường dây, chuẩn bị thêm thiết bị, vật tư dự phòng để có thể hoạt động trong trường hợp chiến tranh lớn xảy ra. Các tuyến đường trục hữu tuyến được trang bị thêm máy tải ba, có mạng ưu tiên cắm thẳng tới các máy ưu tiên đặc biệt. Ở các trạm phối dây quan trọng còn đặt máy đo thử, máy hiện sóng phản xạ phát hiện chập, đứt.

Ngành Bưu điện phối hợp chặt chẽ với Cục Thông tin liên lạc quân đội, Bộ Tư lệnh Thủ đô và các quân khu, quân chủng Phòng không không quân tiến hành triển khai gấp hệ thống truyền thanh thông báo, báo động máy bay và luyện tập các phương án khi địch còn ở xa, vào gần. Ngành còn phối hợp với Thông tin quân đội, Văn phòng TW Đảng lập kế hoạch bảo đảm liên lạc phục vụ Bộ Chính trị, TW Đảng trong tình huống trụ sở chính tại Hà Nội di chuyển về khu căn cứ dự bị. Như vậy, mạng lưới thông tin liên lạc ở miền Bắc đã thực sự được tăng cường về mọi mặt, đảm bảo thông tin liên lạc thường xuyên chắc chắn hơn, phục vụ sản xuất, phục vụ an ninh quốc phòng tốt hơn.

Ngày 05/8/1964, sau hàng loạt hành động khiêu khích, phá hoại có hệ thống, sau khi dựng lên “sự kiện Vịnh Bắc Bộ” đánh lừa nhân dân thế giới và nhân dân Mỹ, đế quốc Mỹ chính thức dùng không quân đánh phá miền Bắc, mở đầu cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân với quy mô lớn và vô cùng tàn bạo đối với Việt Nam. Tuy nhiên với tinh thần chiến đấu cao, được chuẩn bị tốt về mọi mặt, có sự hiệp đồng chặt chẽ với thông tin quân sự, CBCNV ngành Bưu điện và Truyền thanh đã tỏ rõ phẩm chất ngoan cường, gan dạ, mưu trí, bám tổng đài, bám đường dây quyết tâm giữ vững liên lạc dưới bom địch, phục vụ tốt các đơn vị hải quân, bộ đội phòng không và các lực lượng vũ trang địa phương đánh trả máy bay địch, giành thắng lợi lớn, đánh bại ngay từ đầu đợt tập kích ồ ạt bất ngờ của không quân Mỹ, bắn rơi nhiều máy bay.

II.                Chuyển hướng mạng lưới, vừa phục vụ chiến đấu, vừa phục vụ sản xuất, góp phần đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của đế quốc Mỹ

1.    Chuyển hướng mạng lưới

Trong điều kiện chiến tranh leo thang lan rộng cả nước, tháng 3/1965, Hội nghị 11 TW Đảng quyết định: chuyển hướng xây dựng kinh tế sang thời chiến, chuyển hướng về tư tưởng và tổ chức, tăng cường lực lượng quốc phòng cho phù hợp với tình hình mới là nhiệm vụ cấp bách của nhân dân ta ở miền Bắc. Việc chuyển hướng mạng lưới thông tin bưu điện được lãnh đạo ngành Bưu điện triển khai nhanh chóng theo phương châm: khẩn trương, tích cực, chu đáo, thận trọng, có trọng điểm.

Về Bưu chính:Trước sự phá hoại liên tiếp của địch việc vận chuyển bưu chính bằng đường bộ gặp nhiều khó khăn, song Ngành một mặt đã tận dụng việc vận chuyển  đường sắt, ô tô quốc doanh, một mặt tăng cường phương tiện của Ngành (ô tô, mô tô) nên vẫn lưu thoát hết khối lượng. Tùy tình hình đường xá và quy luật hoạt động của máy bay địch, Ngành bố trí xen kẽ các phương tiện, lập kế hoạch hành trình, phân loại công văn thường, công văn hỏa tốc, công văn mật, bưu phẩm, báo chí… tới các đối tượng vừa đảm bảo tính cơ mật, vừa đảm bảo nhanh chóng.

Về thông tin điện chính: Thông tin điện chính là công cụ phục vụ chiến đấu lợi hại không những phải bảo vệ để tránh thiệt hại về người và thiết bị máy móc mà quan trọng hơn là để phục vụ công tác phòng không sơ tán, phục vụ sự hợp đồng chiến đấu tại chỗ của các lực lượng vũ trang, phục vụ cho việc giải quyết hậu quả. Vì vậy, chủ trương của Ngành là một mặt phải bám sát trận địa, giữ vững thông tin liên lạc thông suốt, không để bị gián đoán, dù phải hy sinh, nhưng mặt khác phải có ngay những biện pháp trước mắt và lâu dài để cải tạo mạng lưới thông tin cho phù hợp với tình hình mới. Trong điều kiện bị đánh phá ác liệt, nhiều đoạn đường dây bị hư hỏng nặng, việc liên lạc phải sử dụng vô tuyến điện, thông tin hữu tuyến chỉ liên lạc từng đoạn và từng lúc. Mặt khác, do có sự giao ước và hỗ trợ đảm bảo thông tin giữa hai ngành Bưu điện và Thông tin quân đội nên mỗi khi đường dây trên đoạn tuyến bị đánh phá thì việc liên lạc hữu tuyến được tạm thời chuyển qua đường dây quân sự.

Song song với việc phát triển mạng lưới thông tin hữu tuyến, từ đầu 1965 lãnh đạo Ngành đã chủ trương xây dựng và trang bị mạng vô tuyến điện thành một hệ thống độc lập, song song với mạng hữu tuyến nhằm làm cho hệ thống VTĐ ngày càng vững chắc, cùng hệ thống hữu tuyến đảm bảo liên lạc thông tin trong mọi tình huống. Để đảm bảo tính chất bảo mật, Ngành cũng tổ chức 2 mạng: mạng mật và mạng rõ. Về nguồn điện, trước tình hình địch tăng cường phá hoại các cơ sở điện lực công nghiệp, Ngành đã trang bị thêm 202 máy ragono, máy nổ, máy phát điện, máy nạp ắc quy nên từng bước tự cấp được nguồn điện tương đối ổn định phục vụ cho hoạt động của các thiết bị thông tin vô tuyến và hữu tuyến. Đồng thời để hỗ trợ thông tin tải ba và sóng ngắn, Tổng cục cho xây dựng một số tuyến viba tương đối cố định ở những hướng cần thiết.

Về phát thanh và truyền thanh: Đế quốc Mỹ ngày càng leo thang phá hoại miền Bắc, yêu cầu về phát thanh và truyền thanh rất lớn. Vì vậy, lãnh đạo ngành Bưu điện chủ trương: vừa phải sơ tán, bảo vệ các cơ sở máy móc, vừa phải đảm bảo tiếng nói của Đảng và Nhà nước liên tục. Công tác phòng không sơ tán và phát triển mạng lưới phát thanh, truyền thanh phải kết hợp với nhau. Thực hiện chủ trương trên, các đài phát thanh và truyền thanh ở TW cũng như địa phương, ngoài việc xây dựng cơ sở dự phòng, các thiết bị còn lại phục vụ chiến đấu trong thành phố, thị xã đều được đưa vào công sự bảo vệ tương đối vững chắc. Nhờ vậy hầu hết các đài truyền thanh ở địa phương đều được củng cố, nâng cao chất lượng, đảm bảo hoạt động bình thường, phục vụ liên tục, góp phần tuyên truyền giáo dục, động viên sản xuất, chiến đấu và nâng cao đời sống văn hóa của nhân dân.

Trong 6 năm (1962-1967), ngành Bưu điện đảm nhiệm quản lý mạng phát thanh truyền thanh càng phát triển, tiến bộ rõ rệt. Tuy nhiên trong quá trình hoạt động cũng bộc lộ những hạn chế do phương thức quản lý kinh tế giữa ngành Thông tin – Văn hóa với ngành Bưu điện có khác nhau nên ngày 21/12/1967, Hội đồng Chính phủ ra Nghị định số 219/CP tách Phát thanh Truyền thanh khỏi Bưu điện; giao kỹ thuật phát thanh và các cơ sở phát xạ sang Đài Tiếng nói Việt Nam, giao phần truyền thanh địa phương sang Tổng cục Thông tin, giao các máy thu tin sang Việt Nam Thông tấn xã.

2.    Tổ chức và sắp xếp lại tổ chức

Cùng với việc chuyển hướng mạng lưới thông tin liên lạc, lãnh đạo ngành Bưu điện đã nhanh chóng chuyển hướng tổ chức, cải tiến lề lối làm việc từ Tổng cục đến các đơn vị trực thuộc, các Sở, Ty, Phòng, Trạm. Cơ cấu CBCNV toàn Ngành được sắp xếp lại cho phù hợp với tình hình, nhiệm vụ mới.

Ngày 17/4/1965, Cục Bưu điện TW (trực thuộc Tổng cục) được thành lập có nhiệm vụ tổ chức và bảo đảm sự liên lạc giữa TW Đảng, Chính phủ với các ngành, các địa phương.

Ngày 17/9/1966, Viện Khoa học Bưu điện được thành lập. Công ty Công trình tách khỏi Cục Kiến thiết cơ bản thành đơn vị trực thuộc Tổng cục. Tách Nhà máy Bưu điện và Truyền thanh thành 4 cơ sở để phù hợp với tình hình sơ tán.

III.              Xây dựng và phát triển mạng lưới thông tin liên lạc trong hoàn cảnh có chiến tranh

1.    Toàn Ngành một lòng, đảm bảo thông tin liên lạc phục vụ mọi nhu cầu chỉ đạo sản xuất và chiến đấu

Trong hoàn cảnh chiến tranh ngày càng ác liệt, miền Bắc trở thành hậu phương vững chắc của cả nước bảo đảm cho cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta giành thắng lợi. Hưởng ứng lời kêu gọi  toàn dân chống Mỹ cứu nước của Hồ Chủ Tịch, lãnh đạo Ngành Bưu điện quyết định mở đợt học tập chính trị toàn Ngành để khắc phục những nhận thức tư tưởng không đúng, xây dựng ý chí quyết chiến quyết thắng giặc Mỹ xâm lược, đẩy mạnh công tác xây dựng, chuẩn bị mọi cơ sở vật chất, kỹ thuật và bảo vệ mạng lưới thông tin liên lạc trong giai đoạn cách mạnh mới. Qua đợt học tập và sinh hoạt CBCNV ngành Bưu điện đã dấy lên khí thế thi đua “Thực hiện lời kêu gọi của Bác Hồ” bằng những hành động cụ thể. Cao trào cách mạng chống Mỹ cứu nước đã lôi cuốn hàng vạn CBCN Bưu điện Truyền thanh ở các ngành nghề và nghiệp vụ khác nhau thi đua sẵn sàng bảo đảm thông tin liên lạc phục vụ chỉ đạo sản xuất chỉ huy chiến đấu đánh thắng quân địch. Đó là những cơ sở vững chắc cho những thành tích của ngành Bưu điện đã cùng cả nước đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, tiếp tục công cuộc xây dựng củng cố và phát triển mạng lưới thông tin trong hoàn cảnh có chiến tranh, hết công hết sức vì miền Nam ruột thịt.

Trong tình hình mới, những yêu cầu trước đây đối với ngành Bưu điện về cơ bản không thay đổi mà còn được đặt ra với tinh thần khẩn trương và cao hơn, trước hết “Ngành phải đảm bảo thông tin liên lạc phục vụ các nhu cầu của xã hội, phục vụ Đảng, Nhà nước, các ngành, kết hợp chặt chẽ xây dựng kinh tế với củng cố và tăng cường quốc phòng, kiên quyết bảo vệ miền Bắc đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại và phong tỏa của máy bay, tàu chiến của Mỹ, đồng thời ra sức tăng cường lực lượng mọi mặt cho cách mạng miền Nam”. Trước tình hình cầu phà, đường giao thông bị phá hoại ngày càng trầm trọng, khối lượng bưu phẩm, báo chí ngày một nhiều,  lãnh đạo Ngành đã chủ trương lấy công tác đường thư làm trọng tâm, mở thêm nhiều chi nhánh, phân tán nhỏ các địa điểm giao dịch, phát triển các hình thức lưu động để tạo điều kiện cho các cơ quan và nhân dân sử dụng bưu điện.

Mạng lưới thông tin điện chính ngoài việc cải tạo, củng cố nâng cao chất lượng còn xây dựng thêm hàng trăm km đôi dây đường trục và nội tỉnh. Mạng nội hạt bước đầu được cải tạo lại, bớt tổng đài trung gian, tăng thêm độ thông. Trên các tuyến quan trọng tăng thêm nhiều thiết bị thu phát đảm bảo yêu cầu liên lạc giữa các đài.

Qua thực tiễn chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, CBCN ngành Bưu điện càng dày dạn kinh nghiệm, vững tin ở sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Mạng lưới thông tin liên lạc không những được bảo vệ mà còn phát triển phong phú, phục vụ Đảng, Nhà nước và nhân dân có hiệu quả hơn.

 

2.   Khắc phục hậu quả chiến tranh phá hoại lần thứ I, củng cố phát triển mạng thông tin

Cuộc chiến tranh phá hoại của không quân và hải quân Mỹ không bẻ gãy được ý chí và quyết tâm kháng chiến của toàn Đảng và toàn dân, toàn quân ta, không ngăn được sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam. Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “…nhiệm vụ thiêng liêng của toàn dân ta lúc này là nâng cao tinh thần quyết chiến quyết thắng, quyết tâm giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới hòa bình thống nhất Tổ quốc”, toàn Ngành đã tranh thủ ổn định, nâng cao chất lượng mạng lưới cũng như chất lượng khai thác bị biến động trong chiến tranh, bổ sung và tiếp tục hoàn chỉnh mạng lưới để chuẩn bị cho cuộc chiến đấu mới nếu địch ngoan cố trở lại đánh phá miền Bắc lần nữa.

Thông tin bưu chính tập trung chủ yếu vào việc chấn chỉnh các khâu trong dây chuyền sản xuất, mở các cuộc vận động nâng cao chất lượng các nghiệp vụ nhằm vào 2 điểm yếu nhất là chậm và mất, mở các đường thư mới, các chi nhánh, nhiều nơi bố trí lại ca kíp làm việc cho khớp với hành trình đường thư đi về, các trạm Bưu điện được củng cố, nhất là các xã miền núi để có thể mở rộng các dịch vụ tại xã.

Thông tin điện chính tập trung vào việc củng cố đường dây, củng cố cáp nhập đài, đồng thời xây dựng tiếp những công trình làm dở và những tuyến mới để khép kín từng khu vực. Ngoài ra còn giúp xây dựng các công trình của quân sự, tuyến phục vụ ống dẫn dầu.

Về quan hệ quốc tế đã liên hệ với 6 nước, tổng số đối tượng quan hệ bưu điện là 12 nước mặc dù trong điều kiện chiến tranh ác liệt, kẻ địch ra sức bao vây phá hoại.

3.   Đẩy mạnh sản xuất công nghiệp

Từ cuối năm 1964, đầu 1965, trong điều kiện chiến tranh lan rộng cả nước, một vấn đề lớn đặt ra cho toàn Ngành là: tổ chức sản xuất và chỉ đạo sản xuất công nghiệp thế nào trong điều kiện lực lượng cán bộ công nhân kỹ thuật có tay nghề cao còn rất ít, nguyên vật liệu vừa thiếu vừa không đồng bộ để có thể đáp ứng tốt các yêu cầu của sự nghiệp chống Mỹ cứu nước và thích ứng với tình hình mới.

Để chuyên lo sản xuất các loại vật liệu cho việc xây dựng mạng lưới, Tổng cục thành lập Xưởng Vật liệu Bưu điện, nhà máy Bưu điện chuyển sang sản xuất những sản phẩm với quy cách thích hợp thời chiến như tổng đài nhỏ loại 5, 10, 20, 30 số và tăng cường sản xuất các loại tổng đài và thiết bị khác cho quốc phòng. Do yêu cầu phải đảm bảo hậu cần cho chiến đấu và cũng để phân tán lực lượng cho phù hợp với hoàn cảnh chiến tranh, tháng 8/1967, nhà máy Bưu điện –Truyền thanh được phân chia thành 4 nhà máy, mỗi nhà máy đi sâu nghiên cứu và sản xuất chuyên từng mặt hàng.

Năm 1970 sáp nhập 3 nhà máy và Xưởng Vật liệu thành Nhà máy Vật liệu Bưu điện. năm 1972 thành lập thêm Xí nghiệp Sửa chữa Thiết bị thông tin. Năm 1973 thành lập thêm Xí nghiệp Vật liệu Bê tông và Xí nghiệp Sửa chữa ô tô. Số lượng CBCN toàn khối sản xuất công nghiệp đã tăng từ 1000 người (1965) lên 2225người (1973). Từ chỗ trước đây công nghiệp thông tin chỉ làm nhiệm vụ sửa chữa, phục hồi một số thiết bị và sản xuất một số phụ tùng thay thế đã tiến lên sản xuất được tổng đài các loại, máy điện thoại từ thạch, loa, máy tăng âm, dây bọc các loại…

4.   Tích cực đào tạo xây dựng đội ngũ

Công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ được chú ý, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao cho sự nghiệp phát triển và bảo vệ mạng lưới thông tin liên lạc, phục vụ sự nghiệp cách mạng. Thực hiện Nghị quyết của Bộ chính trị TW Đảng, Ngành tranh thủ mọi điều kiện để trong thời gian tương đối ngắn xây dựng được một đội ngũ cán bộ KHKT và cán bộ quản lý đông đảo, vững mạnh. Việc chuyển hướng công tác giáo dục được đẩy mạnh thêm một bước cả về quy mô và chất lượng.

Để đáp ứng yêu cầu đào tạo CBCN của Ngành phục vụ yêu cầu trước mắt cũng như lâu dài, ngày 1/7/1969, Hội đồng Chính phủ ra quyết định số 104/CP chyển trường Cán bộ Bưu điện thành trường Đại học thuộc Ngành Bưu điện với tên gọi “Trường Đại học Kỹ thuật Thông tin Liên lạc” nằm trong hệ thống các trường đại học và trung học chuyên nghiệp quốc gia do Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp quản lý. Trường có nhiệm vụ đào tạo kỹ sư thông tin VTĐ, kỹ sư hữu tuyến điện, kỹ sư kinh tế, trung cấp kỹ thuật, vận hành, quản lý, khai thác, thiết kế, xây dựng các công trình bưu điện thuộc ngành Bưu điện và cho cả Công an, quân đội và cho cả nước bạn Lào

Với đội ngũ ngày càng hoàn chỉnh về phẩm chất chính trị, tuyệt đối trung thành với Đảng, với giai cấp công nhân, với dân tộc, lại có trình độ KHKT, nắm vững những quy luật của KHKT, đủ sức giải quyết những vấn đề khoa học kỹ thuật phức tạp, CBCN ngành Bưu điện  đã góp phần vào việc phá tan mọi âm mưu xảo quyệt của đế quốc Mỹ lợi dụng thành tựu KHKT để đánh phá, hủy diệt nước ta nhất là về mặt thông tin liên lạc.

5. Góp phần làm nên Điện Biên Phủ trên không

Cuộc tiến công chiến lược mùa xuân 1972 hết sức mãnh liệt bất ngờ của quân và dân ta trên khắp chiến trường miền Nam, đặt cơ đồ “Việt Nam hóa chiến tranh” của đế quốc Mỹ trước nguy cơ đổ vỡ, khiến Mỹ phải huy động lực lượng lớn không quân và hải quân chi viện cho quân ngụy ở miền Nam và đánh phá trở lại miền Bắc, chúng đã dùng máy bay B52 ném bom và đánh phá ác liệt Hà Nội, Hải Phòng và các thành phố, thị xã lớn ở miền Bắc. Miền Bắc lại chuyển hướng từ thời bình sang thời chiến. Đặc biệt tháng 12/1972, địch tiến hành cuộc tập kích đường không chiến lược vào Hà Nội, Hải Phòng, hệ thống thông tin của Ngành cùng với hệ thống thông tin quân đội đã bảo đảm phục vụ cho chỉ huy chỉ đạo đánh trả địch bảo vệ Thủ đô. Trong thắng lợi to lớn của việc đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ 2 của đế quốc Mỹ, đặc biệt là cuộc tập kích chiến lược bằng đường không trong 12 ngày đêm, ngành Bưu điện đã đóng góp phần mình với sự nỗ lực cao nhất làm nên một Điện Biên phủ trên không vang khắp 5 châu, chấn động địa cầu. Trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu, CBCN ngành Bưu điện đã trưởng thành về mọi mặt, đáp ứng tốt những yêu cầu nhiệm vụ được giao.

IV.              Tích cực chi viện cho miền Nam và làm nhiệm vụ quốc tế đối với Lào

1.    Chi viện cho miền Nam

Năm 1954, sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, hòa bình lập lại, đất nước thanh bình nhưng đế quốc Mỹ và tay sai còn chiếm giữ một nửa đất nước. Nhiệm vụ của nhân ta trên cả 2 miền Nam-Bắc là đấu tranh thực hiện Hiệp định nhằm củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong toàn quốc.

Tình hình đặt ra những yêu cầu mới với ngành Bưu điện. Yêu cầu cấp bách là phải tổ chức được các tuyến thông tin liên lạc giữa 2 miền để phục vụ sự chỉ đạo của Đảng đối với cách mạng miền Nam. Thực hiện chủ trương của Đảng, Tổng cục Bưu điện giao cho Bưu điện Đặc khu Vĩnh Linh thành lập Ban C10, tuyển chọn những cán bộ công nhân trẻ, khỏe, cương nghị mở đường giao liên mới, bí mật để chuyển công văn, thư từ vào miền Nam. Bưu điện Vĩnh Linh còn cử người tăng cường cho giao bưu Quảng Trị để xây trạm, mở đường giao liên phục vụ công tác đưa đón cán bộ, tiếp tế những hàng thiết yếu chi viện cho chiến trường miền Nam.

Ngoài ra lãnh đạo Ngành đặt kế hoạch chuẩn bị mọi mặt, chủ yếu là củng cố và phát triển mạng lưới thông tin ở miền Bắc, đồng thời tích cực đẩy mạnh hơn nữa công tác chi viện cho cách mạng miền Nam, làm tròn nghĩa vụ quốc tế. Tất cả những thiết bị tốt nhất, những cán bộ công nhân có năng lực đều được lãnh đạo sắp xếp vào việc ưu tiên cho chiến trường miền Nam và Lào khi cần thiết. Lãnh đạo Tổng cục cũng chỉ đạo nghiên cứu bổ sung điều lệ công tác VTĐ và những quy định về tổ chức các đài, quy ước liên lạc thống nhất trong toàn mạng ở cả 2 miền. Các thể lệ thủ tục khai thác bưu chính được biên soạn gọn nhưng đầy đủ những yêu cầu cơ bản để gửi vào miền Nam. Một mạng thông tin hữu tuyến dã chiến  cũng được thiết lập tại vùng mới giải phóng Quảng Trị về 4 huyện đồng bằng.

Công tác bưu chính được phát triển ngay từ ngày đầu mới giải phóng. Tem, phong bì mang biểu tượng cho Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam được bán rộng rãi. Mỗi huyện có 1 phòng Bưu điện. Hầu hết các xã vùng giải phóng ở Quảng Trị đã có bưu cục.

Qua năm 1974, các nghiệp vụ bưu, điện (thư ghi số, PHBC, điện thoại, điện báo, điện chuyển tiền…) càng được mở rộng phục vụ cơ quan, cán bộ, bộ đội và nhân dân tốt hơn. Ngành cũng thống nhất với ngân hàng về quy định tiền tệ giữa 2 miền càng làm cho hoạt động của Ngành ngày một phong phú. Các đường thư, báo trao đổi giữa 2 miền được bảo đảm với khối lượng ngày càng nhiều, chất lượng ngày càng cao.

Lãnh đạo Ngành cũng chỉ đạo các đơn vị chức năng nghiên cứu tham gia và đấu tranh bảo vệ quyền lợi chính trị của Chính phủ Cách mạng lâm thời CHMNVN tại các hội nghị của các tổ chức về Bưu chính và Điện chính quốc tế.

Từ quý I/1975, Tổng cục Bưu điện đã sớm chủ động chuẩn bị các mặt về vật tư, thiết bị, nhân lực, sử dụng đường dây trần “Thống nhất” với mạng thông tin của Bộ Tư lệnh Thông tin quân đội phục vụ các yêu cầu của chiến trường, nhờ vậy Ngành đã khắc phục được tình trạng bị động khi bước vào phục vụ cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa xuân 1975, góp phần giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc.

2.    Làm nhiệm vụ quốc tế đối với Lào

Kế hoạch “Việt Nam hóa chiến tranh” của đế quốc Mỹ lâm vào thế bị động và thất bại, Mỹ tìm cách mở rộng chiến tranh xâm lược ra các nước Đông Dương nhằm đàn áp phong trào cách mạng Căm-pu-chia và Lào, cô lập cách mạng miền Nam, duy trì chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ ở Đông Dương để giữ vững vị trí chiến lược ở Đông Nam Á. Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng việc giúp đỡ cách mạng ở 2 nước là nhiệm vụ quan trọng. Việc tích cực giúp đỡ cách mạng Lào một cách toàn diện không chỉ là nghĩa vụ quốc tế mà còn là sự phối hợp cần thiết và có tác dụng quan trọng đối với cách mạng Việt Nam. Sự chi viện có hiệu quả của ngành Bưu điện Việt Nam với ngành Bưu điện Lào về nhân lực, vật tư thiết bị đã góp phần tích cực vào thắng lợi của cách mạng Lào. Qua đó mối quan hệ truyền thống đó ngày càng được củng cố và phát triển không ngừng.

V.                Khôi phục thông tin sau chiến tranh

1.    Khôi phục và mở rộng mạng lưới thông tin

Thắng lợi to lớn của cuộc tiến công chiến lược năm 1972 trên chiến trường miền Nam, chiến công xuất sắc của chiến dịch phòng không đánh bại cuộc tập kích chiến lược bằng B52 của Mỹ ở miền Bắc đã khiến cho Mỹ phải ngồi vào bàn ký kết hiệp định Paris lập lại hòa bình tại Việt Nam. Với khí thế của những người chiến thắng sau Hiệp định Paris, CBCN toàn ngành Bưu điện hăng hái bắt tay vào công cuộc lao động, khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục và phát triển mạng lưới.

Về điện chính: Các tuyến đường trục được tăng cường tu sửa, khôi phục lại hoạt động các thiết bị tải ba báo thoại, điện báo tê-lê-tip trên một số tuyến giữa TW với các tỉnh và giữa các tỉnh. Về thông tin VTĐ, Ngành tập trung chấn chỉnh, đo thử, nâng cao chất lượng mạng vô tuyến chuyển tiếp trên tuyến phía Nam. Năm 1974, với quyết tâm nỗ lực mạng lưới thông tin bưu điện được khôi phục nhanh, cơ bản phục hồi được quy mô mạng lưới trước chiến tranh và có phát triển.

Về bưu chính: Đường thư trong nước đã được cơ giới hoá, dịch vụ bưu phẩm bưu kiện, điện chuyển tiền, điện báo, điện thoại được mở ở tất cả các bưu cục. Kết hợp với việc cải tiến tổ chức bưu điện địa phương, Ngành đã bố trí lại mạng lưới bưu cục hợp lý hơn, bố trí lại ca kíp làm việc cho khớp với hành trình các chuyến thư đi, đến. Mạng lưới PHBC được mở rộng, đặc biệt việc PHBC vào miền Nam tuy còn nhiều khó khăn và chưa được sâu rộng nhưng đã tiến hành được tương đối kịp thời, có tác dụng tốt về mặt chính trị.

Cùng với việc phát triển nâng cao chất lượng mạng lưới, công tác đào tạo xây dựng đội ngũ cán bộ KHKT nghiệp vụ, cán bộ quản lý và công nhân được coi trọng, tạo được một đội ngũ rất quan trọng để xây dựng Ngành từng bước đi lên theo hướng sản xuất XHCN.

2.    Cải tiến và tăng cường công tác quản lý

Trải qua chiến tranh ác liệt và thiên tai rất lớn, nhưng trong mấy năm qua mạng lưới thông tin bưu điện vẫn được giữ vững. Tuy vậy trong quá trình phục vụ đã có nhiều biểu hiện tiêu cực tác động xấu đến nhiều mặt kinh tế và xã hội làm ảnh hưởng đến uy tín của Ngành. Nổi cộm nhất là xâm phạm tài sản của cơ quan và nhân dân gửi qua đường bưu điện, buông lỏng quản lý vật tư, tài chính nên tài sản XHCN bị mất mát thiếu hụt, quản lý lao động lỏng lẻo, hiện tượng làm ăn phi pháp và vi phạm pháp luật tương đối phổ biến trong toàn Ngành. Đây cũng là thực tiễn tồn tại của cuộc đấu tranh cách mạng XHCN ở miền Bắc nước ta.

Nhận thức được tầm quan trọng của công tác quản lý trong cán bộ lãnh đạo và quần chúng nên bước đầu Ngành đã có những cố gắng đưa dần các mặt quản lý nghiệp vụ, tài chính, quản lý lao động vào nền nếp theo chế độ quy định. Công tác kế hoạch hóa được quan tâm, công tác tài chính kế toán, thống kê có nhiều tiến bộ về mặt quản lý tài sản, quản lý vốn lưu động, định mức, quản lý thu chi, thanh toán thu nộp…Về mặt bảo quản, phân phối, cấp phát và sử dụng vật tư được chặt chẽ, kịp thời. Công tác tổ chức và lao động cũng được đặc biệt quan tâm, tại cơ quan Tổng cục và bộ máy quản lý gián tiếp ở bưu điện các tỉnh thành, các xí nghiệp, công ty cũng được sắp xếp lại cho hợp lý. Tuy công tác tổ chức quản lý và tổ chức sản xuất đã được cải tiến song vẫn còn nặng theo lối sản xuất nhỏ, chưa thật phù hợp với tính chất sản xuất dây chuyền thống nhất của Ngành, chưa phù hợp với trình độ và yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất theo hướng đi lên CNXH.

Trải qua 10 năm (1965-1975) vừa phục vụ công cuộc xây dựng và bảo vệ miền Bắc XHCN, chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, vừa phải chi viện cho miền Nam, cho ngành thông tin liên lạc cách mạng Lào… ngành Bưu điện đã có cố gắng rất lớn về nhiều mặt, bảo đảm thông tin liên lạc thông suốt trong mọi tình huống. Ngành Bưu điện vô cùng tự hào vì đã cùng nhân dân cả nước sẵn sàng chấp nhận sự hy sinh cần thiết để xóa bỏ nỗi đau mất nước, xóa bỏ tai họa chia cắt để có được quyền làm chủ toàn bộ  đất nước như ngày nay. Mặc dù gặp bao nhiêu khó khăn gian khổ nhưng trong 10 năm ngành Bưu điện đã cố gắng thực hiện những kế hoạch mà Đảng và Nhà nước giao phó. Với đội ngũ trung thành, kiên cường, dũng cảm và đầy sáng tạo lại có Đảng sáng suốt dẫn đường thì không một trở lực nào ngăn cản nổi. Từ khi Đảng còn hoạt động bí mật, trải qua 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc bảo vệ Tổ quốc, chấm dứt ách thống trị hơn 1 thế kỷ của chủ nghĩa đế quốc, Ngành luôn có mặt như một trong những lực lượng mũi nhọn phục vụ sự lãnh đạo của Đảng trong đấu tranh chính trị, quân sự, ngoại giao, trong xây dựng và phát triển kinh tế, phục vụ sự giao lưu tình cảm của nhân dân. Những kinh nghiệm lịch sử của ngành Bưu điện trong thời kỳ này đã trở thành sức mạnh tổng hợp đặt cơ sở bảo đảm cho việc nhanh chóng khôi phục và phát triển mạng lưới thông tin trong điều kiện mới.

Ý kiến của bạn Gửi cho bạn bè In bài này Trở lại