You are here >   Intro > Truyen_thong_lich_su > View
Register   |  Login
NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM CỦA VNPT TRONG QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI VÀ PHÁT TRIỂN
Cập nhật ngày: 15/06/2011

Bước vào thời kỳ thực hiện Chiến lược Hội nhập và Phát triển, nhờ sự đột phá trong tư duy đổi mới, luôn chủ động, sáng tạo trong nhận thức để đón đầu xu thế, VNPT đã vượt lên tư tưởng thỏa mãn thành tích, vượt qua thói quen cung cấp dịch vụ độc quyền, bứt phá thành công từ mô hình Tổng công ty lên Tập đoàn, đa dạng hóa sở hữu, nâng cao mức độ đầu tư và đổi mới về cơ cấu đầu tư, tiếp tục đổi mới công nghệ, mạnh dạn chủ động vươn ra thị trường quốc tế…Những thành tựu to lớn của VNPT là kết quả của việc đúc rút kinh nghiệm và vận dụng thành công đường lối đổi mới, đóng góp đáng kể vào công cuộc đổi mới đất nước.

I.                    Quán triệt và vận dụng sáng tạo đường lối đổi mới phù hợp với thực tiễn phát triển của Ngành

Đổi mới là động lực của sự phát triển đất nước trong hai thập kỷ qua. Đó là bước đột phá ngoạn mục của Đảng và nhân dân ta, đưa đến những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, tạo ra bước chuyển mạnh mẽ và toàn diện cho đất nước. Công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo chỉ có thể đạt được những thành tích to lớn nhờ vào sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, của các cấp, các ngành để từ đó đổi mới ngày càng đi vào chiều sâu, ngày càng lan tỏa, thành quả đạt được ngày càng bền vững. Được dẫn dắt bởi đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, những thành tựu to lớn của VNPT trong thập niên đầu thế kỷ 21 không nằm ngoài kết quả chung của quá trình đổi mới của toàn Ngành. Sức sống của đổi mới là ở chỗ mỗi cấp, mỗi ngành bên cạnh sự quán triệt nghiêm túc tinh thần đường lối đổi mới thì còn phải vận dụng sáng tạo, phù hợp với đặc điểm của ngành, của địa phương mình.

Bản thân VNPT cũng đã nỗ lực góp phần tạo nên sức sống đó bằng phương châm, bước đi và các biện pháp sáng tạo phù hợp. Từ đó làm cơ sở thực tiễn để Đảng tiếp tục bổ sung, hoàn thiện đường lối đổi mới, làm sáng tỏ hơn lý luận về sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế. Trong bối cảnh đầu thế kỷ 21 có nhiều hoạt động hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng và toàn diện; sự tăng trưởng không ngừng của nền kinh tế; cơ chế chính sách tiếp tục được hoàn thiện mang tính đòn bẩy có tác động trực tiếp tới VNPT. Để biến những nhân tố mới thành động lực, tiếp tục tạo ra sức bật mới cho sự phát triển thì vấn đề đặt ra là phải tiếp tục quán triệt và vận dụng sáng tạo hơn nữa đường lối đổi mới một cách sát thực, phù hợp với thực tế từng bước chuyển không ngừng của VNPT.

Ở giai đoạn trước, với tinh thần độc lập sáng tạo, quyết tâm cao, VNPT đã mạnh dạn đổi mới tư duy, tạo dựng được thời cơ và môi trường thuận lợi để phát triển thị trường, mở cửa, hợp tác đa phương, đa dạng, táo bạo hoạch định đúng hướng đi thẳng vào công nghệ hiện đại, chú trọng đổi mới về quản lý điều hành, đầu tư hiện đại hóa mạng lưới; phát triển đa dạng các loại hình dịch vụ… để tạo ra bước ngoặt thần tốc: chuyển đổi từ công nghệ Analog sang công nghệ Digital; từ bao cấp sang hạch toán kinh doanh; từ một ngành dịch vụ, từng bước chuyển sang kết hợp phục vụ với kinh doanh; đột phá trong quan hệ quốc tế, tiếp thu công nghệ mới, mở dường cho nền kinh tế Việt Nam vươn ra thế giới…Bước sang thời kỳ hội nhập phát triển, vận dụng sáng tạo đường lối đổi mới không thể không dựa vững trên nền tảng những thành tựu đạt được, đồng thời phải xác định được những hướng đột phá mới, phù hợp. Xét đến cùng, đổi mới dù diễn ra trên mọi phương diện hoạt động đều bắt nguồn từ đổi mới tư duy và nhận thức. Tư duy sáng tạo sẽ đưa đến chương trình hành động mang tính sáng tạo, tạo bước đột phá. Vì vậy, khâu đột phá được lựa chọn là đổi mới tư duy không chỉ ở các cấp lãnh đạo mà ở toàn bộ CBCNV, từ đó nêu cao tinh thần tự lực tự cường, mạnh dạn suy nghĩ và hành động, phát huy tinh thần năng động, sáng tạo, chủ động trong từng cá nhân, từng khâu của VNPT, thúc đẩy toàn diện và vững chắc các mặt hoạt động.

Từ đổi mới tư duy trong tình hình mới đưa đến hàng loạt những vấn đề vĩ mô thuộc tầm chiến lược được VNPT chú trọng cải tiến, bổ sung, thậm chí là nhận thức lại như chiến lược đổi mới cơ cấu tổ chức để đi đến thực hiện chia tách bưu chính và viễn thông xuất phát từ sự khác biệt đáng kể về công nghệ, quản lý cũng như vai trò, vị trí của hai lĩnh vực. Đó là sự thay đổi khá căn bản trong chiến lược đổi mới tư duy kinh doanh vì tới thời kỳ này, thị trường BCVT – CNTT không còn chấp nhận sự độc quyền nữa, sức ép xóa bỏ độc quyền gia tăng, sự cạnh tranh diễn ra khá gay gắt. Đón đầu xu thế đó, hàng loạt các chức năng quan trọng trong quản trị kinh doanh (quản trị chiến lược, quản trị tài chính, quản trị nguồn nhân lực, quản trị marketing….) được VNPT khẩn trương củng cố, bổ sung nhằm tăng năng lực cạnh tranh của chính mình…Đó là sự khẩn trương trong chiến lược đổi mới hình thức sở hữu, bởi vận hành trong mô hình sở hữu nhà nước, nhiều doanh nghiệp nói chung và VNPT nói riêng không tránh khỏi những khuyết tật cố hữu như bộ máy cồng kềnh, nhiều nấc trung gian, năng suất thấp, lãng phí trong sử dụng các nguồn lực… ảnh hưởng nhiều đến năng lực cạnh tranh trong cơ chế mới. Bước sang giai đoạn đổi mới tổ chức theo mô hình tập đoàn kinh tế, để nâng cao tính năng động và hiệu quả, từ sự thay đổi mạnh mẽ trong tư duy, VNPT đã tích cực cổ phần hóa để chuyển đổi sở hữu vốn đối với những doanh nghiệp bộ phận mà Nhà nước không cần nắm giữ, tích cực chuyển đổi từ cơ chế giao vốn sang cơ chế kinh doanh vốn đối với những doanh nghiệp Nhà nước cần nắm giữ…Bên cạnh hàng loạt chiến lược quan trọng được thay đổi tận gốc thì sự đổi mới về phương thức tổ chức quản lý mô hình doanh nghiệp từ Tổng công ty sang Tập đoàn là chiến lược mang tầm quan trọng đặc biệt, chi phối và dẫn dắt các chiến lược phát triển khác. Đây là bước thử thách đòi hỏi sự tập trung cao độ, trí tuệ để tự tìm cho mình chiến lược chuyển đổi và cơ chế vận hành phù hợp. Từ nhận thức đó, VNPT đã có sự chủ động, tích cực nghiên cứu, chuẩn bị mô hình từ rất sớm trước khi Chính phủ ra quyết định thành lập Tập đoàn. Nhờ vậy trong chuyển đổi mô hình đã giúp VNPT hạn chế thấp nhất sự ảnh hưởng, xáo trộn trong hoạt động SXKD, không gián đoạn hoạt động vận hành mạng lưới cung cấp dịch vụ… Dù là những thành công bước đầu, là bài học kinh nghiệm quý cho VNPT trên con đường hoàn thiện đổi mới tổ chức quản lý song cũng là vấn đề đang đặt ra cho VNPT vì đến nay VNPT vẫn trong quá trình thí điểm, các bước đi còn bộc lộ những khó khăn, lúng túng, một số khâu yếu chưa tìm được hướng khắc phục phù hợp…

II.                  Đổi mới tư duy, định hướng rõ tầm nhìn và xây dựng kế hoạch hành động với những khâu đột phá, những mục tiêu ưu tiên và giải pháp chiến lược

Đổi mới là quá trình liên tục và đồng bộ. Muốn vậy, mỗi giai đoạn phải như một mắt xích, vừa nằm trong xâu chuỗi chung đồng thời có mục tiêu, phương châm, biện pháp thực hiện và bước đi phù hợp, cụ thể; Bước đi trước phải đặt nền tảng và định hướng cho bước tiếp theo. Điều này có nghĩa là, nếu trong cả chặng đường đã xác định được khâu cần đột phá thì trên từng chặng phải tìm được mũi và giải pháp đột phá. Với đặc thù của VNPT là ngành BCVT- CNTT, lĩnh vực có sự thay đổi không ngừng, liên tục, việc xác định được trước, đúng mục tiêu và tính toán biện pháp thực hiện phù hợp là điều hết sức khó khăn, không chỉ đòi hỏi trí tuệ, sáng tạo, óc phán đoán và sự nhạy bén mà còn cần bề dày kinh nghiệm.

Trong những yếu tố trên, trong quá trình thực hiện Chiến lược Hội nhập và Phát triển, điều đặc biệt quan trọng là VNPT phải nhận  thức được đầy đủ về bước chuyển giai đoạn, nhất là bối cảnh trong nước và quốc tế đầu thế kỷ 21. Trên cơ sở đó mới dự báo đúng xu hướng phát triển, những cơ hội, thách thức… qua đó chủ động có biện pháp ứng phó thích hợp. Cao hơn nữa, nhận thức được quá trình chuyển giai đoạn là phải nhận diện những lĩnh vực sẽ có tiềm năng phát triển trong tương lai để có bước chuẩn bị đột phá về kỹ thuật, dịch vụ, quản lý đón trước cơ hội…

Nếu ở thời kỳ Số hóa-Tăng tốc , mũi đột phá là viễn thông quốc tế, giải pháp chủ yếu là công nghệ và tạo vốn, thì thời kỳ Hội nhập và Phát triển khâu đột phá là mở cửa thị trường (VoIP năm 2000 và tiếp theo là thị trường di động), giải pháp chủ yếu là đổi mới tổ chức và cơ chế quản lý doanh nghiệp, nâng cao năng lực cạnh tranh. Thời kỳ Số hóa-Tăng tốc đã tạo dựng nền tảng kỹ thuật, kinh nghiệm, nguồn nhân lực đủ để tạo ra “thế“ và “lực” cho bước chuyển biến mới, mạnh mẽ, toàn diện, chủ động và tự tin. Xu thế hội nhập và những chuyển biến của thị trường BCVT – CNTT thế giới chính là thời cơ để thế và lực phát huy mạnh mẽ. Nhờ sự hoạch định đúng đắn đó đã tạo nên sự phát triển mạnh mẽ và toàn diện ngay trong những năm đầu thực hiện chiến lược Hội nhập và Phát triển. Để có những bước đột phá, điểm đột phá chính xác, bám sát chiến lược phát triển đề ra ban đầu đòi hỏi phải có giải pháp đồng bộ và bước đi phù hợp, nhất là những giải pháp có tính chiến lược. Những giải pháp đưa ra trong giai đoạn này luôn bám sát thực tiễn, phù hợp với yêu cầu khách quan, đồng thời là kết quả của sự tìm tòi sáng tạo. Giải pháp chiến lược đổi mới tổ chức và cơ chế quản lý đưa đến sự xuất hiện mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước. Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh, giải pháp xương sống trong chiến lược đổi mới tư duy kinh doanh, VNPT đã quan tâm phát huy nội lực, tạo cơ sở nền tảng cho năng lực cạnh tranh, bảo đảm cạnh tranh có hiệu quả và bền vững trên cơ sở nền tảng kỹ thuật và mạng lưới đồng bộ, hiện đại, bộ máy và cơ chế quản lý gọn nhẹ, hiệu quả, cạnh tranh bằng chất lượng dịch vụ, nguồn lực, văn hóa kinh doanh…Nhờ vậy, trong điều kiện cạnh tranh quyết liệt trên thị trường BCVT-CNTT, VNPT vẫn tiếp tục khẳng định được vị trí chủ đạo trong toàn Ngành. Điển hình là sự bứt phá quyết liệt và hiệu quả của các mạng di động Vinaphone và Mobifone trong việc phát triển cơ sở hạ tầng, mở rộng mạng lưới, đảm bảo phủ sóng rộng khắp toàn quốc, đáp ứng tốt hơn chất lượng dịch vụ và nhu cầu sử dụng dịch vụ, khẳng định chất lượng hàng đầu của hai mạng tại Việt Nam hiện nay…

III.                Phát huy nội lực, chủ động hội nhập và phát triển

Mở rộng hợp tác quốc tế, phát huy nội lực là chính sách xuyên suốt và có ý nghĩa quyết định mang lại kết quả đáng ghi nhận của toàn ngành Bưu điện trong hơn hai thập kỷ đổi mới. Bài học về phát huy nội lực tiếp tục được VNPT vận dụng sáng tạo trong thực tiễn giai đoạn Hội nhập và Phát triển đầu thế kỷ 21.

Nội lực là sức mạnh tự thân, trong những giai đoạn trước, nội lực của VNPT là cơ sở hạ tầng kỹ thuật, là kinh nghiệm cùng đội ngũ CBCNV đông đảo, bản lĩnh, có tinh thần gắn bó với Ngành và tinh thần đoàn kết phấn đấu. Trong điều kiện mới, nội lực của VNPT mang nội hàm rộng hơn, bao gồm cả sự tích hợp của mạng lưới và công nghệ hiện đại với phát triển đa dịch vụ, nhất là những dịch vụ có giá trị gia tăng cao; của khoa học và ứng dụng; của đổi mới mô hình, bộ máy, cơ chế quản lý và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; của sự tăng cường, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, trong nước; của uy tín, thương hiệu được tăng cường… VNPT đã thay đổi trong việc xây dựng mô hình tổ chức, các biện pháp quản lý hiệu quả và có cơ chế tạo động lực mạnh mẽ để phát huy tốt nguồn nội lực đó. Về quản lý, quá trình chuyển đổi từ cơ chế bao cấp sang hạch toán, từ mô hình Tổng công ty 91 sang mô hình Tập đoàn kinh tế cùng với sự mở cửa thị trường viễn thông có sự tham gia của nhiều doanh nghiệp mới, nội lực được phát huy mạnh. Mỗi mô hình đều thể hiện bước phát triển đột phá, có tính kế thừa, phù hợp và phát huy tốt vai trò, ưu thế trong từng giai đoạn phát triển. Lãnh đạo VNPT đã xử lý thành công mối quan hệ giữa tập trung nỗ lực, nguồn sức mạnh của cả tập đoàn trong những bước đột phá quan trọng về kỹ thuật và dịch vụ đồng thời phát huy tinh thần chủ động của các đơn vị thành viên…

Cùng với việc không ngừng tăng cường cơ sở vật chất, cải thiện điều kiện làm việc, nâng cao đời sống vật chất cho CBCNV, VNPT còn đặc biệt quan tâm đến cơ chế chính sách tạo điều kiện cho các đơn vị và từng cá nhân phát huy năng lực, xây dựng văn hóa doanh nghiệp…Từ việc nhận diện đúng nội lực và không ngừng phát huy nội lực, VNPT đã nhanh chóng dự báo chuẩn xác về thời cơ, đón bắt đúng thời cơ để duy trì đà tăng trưởng nhanh và bền vững. Không chỉ nhận diện và có biện pháp hiệu quả nhằm phát huy nội lực mà thực tiễn những năm qua cho thấy VNPT đã rất thành công trong việc tiếp tục củng cố, bổ sung sức mạnh nội lực. Có nhiều con đường để tạo nội lực nhưng xuất phát từ đặc thù ngành nghề thuộc lĩnh vực công nghệ cao, thay đổi nhanh, đầu tư lớn, cách làm mà VNPT lựa chọn là tích lũy, tạo nguồn vốn và phát huy hiệu quả đầu tư; phát huy nhân tố con người, đổi mới doanh nghiệp, tạo cơ chế tự thích ứng và phát huy tinh thần tích cực, chủ động, mạnh dạn đột phá đi tắt, đón đầu công nghệ và dịch vụ. Thực tiễn quá trình phát triển mấy chục năm qua của Ngành đã cho thấy việc phát huy nội lực phụ thuộc rất nhiều vào chiến lược đầu tư phát triển. Để tạo vốn không chỉ dựa vào nguồn vốn nội sinh do doanh thu mang lại, cũng không thể trông chờ ngân sách eo hẹp của Nhà nước, VNPT đã sử dụng vốn hợp tác với nước ngoài, của các địa phương, doanh nghiệp và huy động trong dân, trong CBCNV. Khi hoạch định chính sách đầu tư, VNPT suy nghĩ, tìm tòi để định hướng đầu tư hiệu quả: Lấy đột phá là phát triển thông tin quốc tế để tạo vốn đầu tư phát triển trong nước, ưu tiên đầu tư ở các trung tâm kinh tế, chính trị, thương mại, các vùng có nhu cầu lớn, doanh thu cao, các hệ thống đường trục quan trọng.

Nội lực bao gồm nhiều thành tố, trong đó có những thành tố hữu hình vô cùng quan trọng (vốn, hạ tầng kỹ thuật, đa dạng dịch vụ, nguồn nhân lực…), những thành tố vô hình nhưng lại là nguồn nội lực, là tài sản mang tính quyết định cho sự phát triển của VNPT (uy tín, thương hiệu, dư luận xã hội, văn hóa doanh nghiệp… và quan trọng hơn cả là bản lĩnh, trí tuệ VNPT). VNPT là một trong những ngành, đơn vị tạo ra bước phát triển toàn diện, góp phần quan trọng vào sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước. Là một nhân tố đi đầu mang tính thí điểm xây dựng mô hình tập đoàn kinh tế đầu tiên ở Việt Nam, VNPT gánh trọng trách nặng nề là phải thành công để khẳng định con đường đổi mới vĩ mô của Đảng và Nhà nước, khẳng định vị thế là một trong những trụ cột nền kinh tế đất nước và khẳng định vị thế là doanh nghiệp số 1 trong lĩnh vực BCVT-CNTT. Với hàng loạt sức ép, VNPT phải dựa vững trên trí tuệ và bản lĩnh của mình: dám làm dám chịu trách nhiệm. Thực tiễn đã cho thấy rằng muốn đổi mới thành công quan trọng nhất là phải có ý chí, bản lĩnh và niềm tin vào đổi mới. Kết quả không thể hiện trong ngày một ngày hai, càng không diễn biến xuôi chiều mà thậm chí phải chấp nhận bước lùi, hoặc những khó khăn khi phá bỏ cái cũ, thiết lập cái mới. Có những ý tưởng phải trải qua nhiều năm thử thách mới khẳng định sự đúng đắn. Bên cạnh đó, quá trình thay đổi còn nảy sinh nhiều vấn đề mới, thậm chí phát sinh khó khăn, càng cần phải có ý chí, bản lĩnh cao. Ý chí và quyết tâm đổi mới đã tạo nên thành công của giai đoạn Số hóa-Tăng tốc. Đổi mới toàn bộ hạ tầng, tiến thẳng vào công nghệ hiện đại là một quyết định hết sức táo bạo dù gặp vô vàn khó khăn về nguồn vốn đầu tư, dù vấp phải không ít quan điểm chỉ trích, phê phán.

Trong giai đoạn Hội nhập và Phát triển, ý chí và quyết tâm đổi mới của VNPT tiếp tục được phát huy cao độ bằng việc chủ động hội nhập, phát huy nội lực, mở rộng hợp tác cả trong nước và quốc tế. Trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, VNPT quyết tâm giữ vững thị phần bằng các giải pháp: nâng cao chất lượng và đa dạng hóa các loại hình dịch vụ, đặc biệt là các dịch vụ nội dung, dịch vụ giá trị gia tăng nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin của toàn xã hội. Công tác chăm sóc khách hàng cũng được chú trọng góp phần củng cố vị thế của VNPT. Bên cạnh các hoạt động phát triển, VNPT đã hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ đặc biệt quan trọng mà Đảng và Chính phủ giao: thực hiện dự án Vinasat-1, xây dựng mạng thông tin phục vụ TW, đảm bảo thông tin phục vụ các hội nghị cấp cao… VNPT đã mạnh dạn vượt lên những quy định rườm rà, câu nệ về thủ tục đấu thầu, đầu tư, mua sắm thiết bị quy định cho các doanh nghiệp nhà nước để đẩy nhanh tiến độ, đuổi kịp các đối tác nước ngoài, nhờ vậy VNPT đã giành được hàng loạt dự án lớn không phải bằng ưu thế của độc quyền mà bằng sự minh bạch, sòng phẳng và thuyết phục trong cơ chế cạnh tranh. Kiên trì đổi mới, trí tuệ và bản lĩnh là bài học kinh nghiệm quý báu, là nguồn nội lực vô giá của VNPT mà các thế hệ kế cận cần tiếp tục kế thừa và phát huy.

IV.                Không ngừng đổi mới bộ máy tổ chức và công tác quản lý phù hợp yêu cầu phát triển trong từng giai đoạn

Lịch sử hình thành và phát triển của Bưu điện Việt Nam cho thấy, từ vai trò đặc biệt quan trọng của Ngành đối với nền kinh tế-xã hội và an ninh chính trị, từ tính chất đặc biệt vừa kinh doanh trong lĩnh vực nhạy cảm, vừa thực hiện nghĩa vụ công ích… nên việc xác định mô hình tổ chức hợp lý trong cơ chế thị trường là vấn đề rất khó khăn, phức tạp, chịu sự chi phối của nhiều yếu tố. Thực tiễn quá trình vận động và phát triển lại xuất hiện những bất cập, nhất là giải quyết mối quan hệ giữa viễn thông và bưu chính; giữa nhiệm vụ chính trị với chức năng kinh doanh; giữa đầu tư, quản lý và khai thác; giữa chức năng nhiệm vụ của một Tập đoàn kinh tế với sự linh hoạt về sở hữu và mô hình doanh nghiệp trong thời kỳ hội nhập với sự ra đời của các công ty liên doanh; giữa Tập đoàn với các bưu điện địa phương… đòi hỏi phải tiếp tục có những điều chỉnh về mô hình cơ cấu tổ chức. Lựa chọn một mô hình tổ chức không thể máy móc, giáo điều theo mô hình sẵn có nào mà phải từ sự tổng kết thực tiễn của đất nước và Ngành, chắt lọc mặt thích hợp, loại bỏ bất hợp lý, phải luôn đổi mới cơ chế quản lý và bộ máy, thích ứng với yêu cầu phát triển doanh nghiệp cũng như với nhu cầu phát triển dịch vụ, phù hợp từng hoàn cảnh.

Đối với VNPT phải có cơ chế để các đơn vị thành viên có khả năng chủ động thích ứng, vừa tôn trọng quyền tự chủ của doanh nghiệp trong cơ chế thị trường, vừa đảm bảo vai trò chi phối, điều tiết của Nhà nước. Vì  vậy, việc xây dựng cơ cấu tổ chức, cơ chế vận hành phải xuất phát từ tầm nhìn chiến lược của Tập đoàn, của Bộ và xa hơn nữa là nằm trong tổng thể quy hoạch phát triển BCVT – CNTT của Đảng và Nhà nước.

Một trong những bước chuyển đổi then chốt nhất của VNPT trong mô hình quản lý là việc chuyển từ Tổng công ty lên Tập đoàn. Thành công này có ý nghĩa quyết định đến sự thành công trong các lĩnh vực khác. Từ kinh nghiệm những bước chuyển đổi trước cho thấy phải đồng bộ giữa công tác quản lý với hạ tầng kỹ thuật, với khả năng của nguồn nhân lực, trực tiếp là cán bộ quản lý; đổi mới tổ chức và quản lý phải có lộ trình phù hợp, có tính kế thừa và đón trước nhu cầu phát triển của thị trường. Phải xử lý mối quan hệ giữa tập trung và phân cấp hợp lý. Tập đoàn phải tập trung nguồn lực, tập trung đầu tư, có định hướng đúng, đồng bộ, nhưng không làm thay, ôm đồm công việc dẫn đến kìm chế sự sáng tạo, linh hoạt của các đơn vị thành viên. Các đơn vị thành viên bám sát định hướng chung, chủ động sáng tạo thực hiện nhiệm vụ. Nhờ vậy sẽ tạo được sức mạnh tổng lực, mỗi đơn vị thành viên có thể trở thành những mũi đột phá trong hoạt động… Vấn đề là việc phân cấp phải có lộ trình, từng bước chắc chắn, bám sát năng lực quản lý của Tập đoàn và khả năng của từng đơn vị… Nhận thức được điều đó nên khi chuyển đổi sang mô hình tập đoàn, VNPT đã có những bước chuẩn bị từ khá lâu, tính toán kỹ lưỡng các tình huống phát sinh, chuyển đổi đồng bộ và có lộ trình phù hợp. Do đó, dù là một trong những tập đoàn thí điểm đầu tiên nhưng VNPT đã nhanh chóng ổn định về tổ chức và các mặt hoạt động, góp phần khẳng định một chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước.

Việc thực hiện chia tách bưu chính và viễn thông cũng được thí điểm triển khai thận trọng từng bước, sau đó mới triển khai đồng loạt. Đây là công việc khá phức tạp, đặc biệt là giải quyết các nội dung cụ thể: bố trí lao động, phân chia tài sản, biện pháp phát triển bưu chính sau khi chia tách, cơ chế phối hợp giữa bưu chính với viễn thông… CBCNV ngành Bưu điện vốn đã quen gắn bó với mô hình bưu chính đi liền viễn thông với những mối quan hệ tình cảm đồng chí, đồng nghiệp. Trong SXKD, bưu chính thường được coi có tính công ích, phục vụ xã hội  với các dịch vụ chủ yếu có giá cước dưới giá thành. Tuy vậy, với kinh nghiệm của VNPT, sự năng động sáng tạo của các đơn vị cũng như những kinh nghiệm tốt rút ra được từ việc chia tách bưu chính viễn thông của các nước, VNPT đã  từng bước thực hiện thành kế hoạch chia tách trên toàn mạng lưới. Sau hai năm hoàn thành bóc tách, bưu điện các tỉnh thực hiện hạch toán riêng từng lĩnh vực dịch vụ, bảo đảm hoạt động kinh doanh ổn định, duy trì mức tăng trưởng cao… Đó chính là tiền đề cho việc đổi mới mô hình tổ chức của Tập đoàn.

Đổi mới tổ chức quản lý là công việc cần đầu tư nhiều thời gian, trí tuệ, công sức, và phải tập trung mọi nguồn lực để thực hiện nghiêm túc, cẩn trọng. Kinh nghiệm rút ra trong công tác đổi mới quản lý dù chỉ là bước đầu song rất đáng quý, tạo niềm tin, động lực để VNPT hoàn thành nhiệm vụ khó khăn: Xây dựng Tập đoàn kinh tế với tầm nhìn chiến lược để mọi nguồn lực và tài nguyên được sử dụng có hiệu quả cao nhất, phát triển mạng về quy mô, đồng bộ, hiện đại, chất lượng cao, tổ chức mạng hợp lý, đồng thời phát huy cao nhất sức mạnh của nguồn nhân lực, của toàn bộ máy tạo thế tiến công mạnh mẽ trên các lĩnh vực SXKD.

V.                  Tăng cường và đổi mới phương thức hợp tác quốc tế nhằm phát huy toàn diện sức mạnh nội lực

Đối với mọi quốc gia, mọi ngành, muốn phát triển không thể không hội nhập quốc tế. Đặc biệt với đặc thù của ngành Bưu điện, hợp tác quốc tế là yêu cầu tất yếu. Những thành quả có được ngày hôm nay là kết quả của quá trình phát huy sức mạnh nội lực đồng thời đón bắt, tiếp nhận những thành quả của KHCN và quản lý của thế giới thông qua hợp tác quốc tế với lộ trình, biện pháp phù hợp. Kinh nghiệm trong hợp tác quốc tế về bưu chính viễn thông trong giai đoạn trước được VNPT đúc rút là phải chủ động thực hiện đa phương hóa, đa dạng hóa một cách năng động nhưng đồng thời hết sức mềm dẻo, chọn hướng đột phá phù hợp. Nhờ vậy, VNPT đã bền bỉ, kiên trì vượt qua hàng rào cấm vận, tạo mối quan hệ tin cậy và chọn lựa hình thức hợp tác kinh doanh phù hợp với các đối tác có công nghệ cao, tiên tiến và có tiềm năng về vốn đầu tư. Quá trình hợp tác đã mang lại thành quả to lớn với việc chuyển biến thông tin nhanh chóng từ hệ tương tự hoàn toàn sang hệ số hóa, mở ra xa lộ thông tin, kéo không gian vũ trụ lại gần bằng máy điện thoại cầm tay đa tính năng và nhạy cảm; “số hóa” là cuộc cách mạng lớn trong thời kỳ mở cửa và đổi mới của đất nước.

Bước vào giai đoạn hội nhập và phát triển, VNPT hoạch định cho mình chiến lược hội nhập quốc tế một cách chi tiết, khoa học và táo bạo, chú trọng cả song phương và đa phương. Không chỉ  ứng dụng KHCN của thế giới, VNPT còn tận dụng thế mạnh từ hội nhập và cạnh tranh quốc tế để các nhân tố nội lực được phát huy cao độ trên bình diện quốc tế, tạo lợi thế so sánh, bảo vệ quyền lợi và sự phát triển bền vững của mình. VNPT đặc biệt chú trọng việc mở rộng quan hệ hợp tác với các đối tác bên ngoài, đẩy mạnh quá trình đầu tư ra nước ngoài, biến các đối tác thành bạn hàng, từng bước bán sản phẩm ra quốc tế. VNPT tăng cường tham gia vào các tổ chức quốc tế về BCVT – CNTT; hoàn tất tham gia liên doanh viễn thông Acasia, tham gia xây dựng hệ thống cáp quang biển AAG, APG; khảo sát và đàm phán nhiều dự án mới tại nước ngoài; liên doanh sản xuất cáp đồng tại Lào, liên doanh xây dựng hạ tầng và cung cấp dịch vụ viễn thông tại Cămpuchia, mở văn phòng chi nhánh tại Hoa Kỳ, mở POP tại Hoa Kỳ và Hongkong… Ngoài ra VNPT từng bước tham gia xây dựng và triển khai các đề án quốc tế, khu vực trong khuôn khổ các tổ chức, diễn đàn quốc tế trong lĩnh vực BCVT, tin học. Hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đào tạo cũng thực hiện hiệu quả qua việc Học viện Công nghệ BCVT phối hợp với các chuyên gia Nhật Bản và Đại học Staten Island (CSI) thuộc Đại học New York (Mỹ) tổ chức nhiều khóa đào tạo trực tiếp hoặc qua cầu truyền hình cho các cán bộ quản lý nhà nước, các doanh nghiệp của Lào, Cămpuchia…

Thành công trong hội nhập quốc tế với những nét mới trong những năm đầu thế kỷ 21 đã khẳng định ở tầm quốc tế uy tín của VNPT, doanh nghiệp hàng đầu về BCVT-CNTT của đất nước. Đồng thời VNPT cũng góp phần khẳng định vai trò và uy tín của ngành Bưu chính Viễn thông Việt Nam trên trường quốc tế…

VI.                Coi trọng chiến lược xây dựng và phát triển nguồn nhân lực

Đối với bất kỳ doanh nghiệp nào, chất lượng nguồn nhân lực luôn đóng vai trò quyết định đến năng lực và hiệu quả hoạt động. Thực tiễn phát triển của ngành Bưu điện cho thấy những thành tựu đạt được là nhờ có đội ngũ CBCNV từ trên xuống dưới đều đồng cam cộng khổ, dám nghĩ dám làm, dám chịu trách nhiệm. Để thực hiện thành công quá trình hội nhập về CNTT phải có đội ngũ chuyên gia, cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật đủ năng lực tiếp thu và làm chủ công nghệ mới, đội ngũ đó phải có bản lĩnh và ý chí quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ trong mọi hoàn cảnh, đủ sức chiến thắng trong cạnh tranh, gắn bó, tâm huyết với sự phát triển chung của Tập đoàn. Bởi vậy, việc chăm lo xây dựng đội ngũ CBCNV là nhân tố quyết định nhất đối với quá trình phát triển của VNPT.

Bước vào giai đoạn mới, hội nhập, cạnh tranh vừa là cơ hội nhưng cũng vừa là thách thức cho sự phát triển của đất nước nói chung và VNPT nói riêng. Những thách thức đó đòi hỏi VNPT phái có chiến lược phát triển nhân lực toàn diện và mang tính đón đầu. Yêu cầu phát triển nguồn nhân lực trong bối cảnh có sự thay đổi nhanh chóng về công nghệ và tiến trình hội nhập, cạnh tranh diễn ra hết sức mạnh mẽ là xây dựng đội ngũ chuyên gia có trình độ ngang tầm với các đối tác cạnh tranh trong nước và quốc tế, nắm bắt và làm chủ được công nghệ mới phát triển như vũ bão. Chú trọng xây dựng đội ngũ công nhân lành nghề đáp ứng yêu cầu quản lý, khai thác an toàn mạng lưới trong nước và các công trình hợp tác quốc tế. Xây dựng, đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý có chất lượng cao đáp ứng được các điều kiện SXKD theo mô hình tổ chức mới.

Là ngành giữ vị trí tiên phong trong sự nghiệp CNH - HĐH và hội nhập quốc tế, là ngành kỹ thuật vừa có nhiệm vụ SXKD vừa có trách nhiệm xã hội, khâu bồi dưỡng và đào tạo lại cán bộ hết sức quan trọng để đội ngũ CBCNV thường xuyên cập nhật kiến thức, nắm bắt được những thành tựu mới nhất, mặt khác đội ngũ cũng phải có tính kế thừa và phát triển để vừa đảm bảo tính ổn định, vừa đáp ứng yêu cầu tăng tốc, đảm bảo sự ổn định đoàn kết đồng thời tạo được các nhân tố mới, trẻ hóa, năng động, nhạy bén…

Coi trọng nhân tố con người không chỉ là quan tâm đến thế hệ hiện tại và thế hệ kế cận mà còn phải luôn trân trọng, kế thừa kinh nghiệm của thế hệ đi trước, tạo sự gắn bó, thống nhất giữa các thế hệ. Để bảo đảm sự phát triển bền vững và toàn diện thì xây dựng nguồn nhân lực không chỉ nhằm đáp ứng chất lượng về trình độ chuyên môn mà còn phải chú trọng nâng cao kiến thức quản trị doanh nghiệp hiện đại đối với cán bộ quản lý, kiến thức về văn hóa doanh nghiệp đối với toàn bộ CBCNV. Phải có cơ chế để lựa chọn được người tài, giữ chân người tài, phát huy nhân tài, đồng thời kết hợp hài hòa giữa tuyển chọn chuyên gia và tuyển dụng có tính chất xã hội hóa cao trong xây dựng đội ngũ. Có như vậy mới đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ ngày càng nặng nề của thời kỳ hội nhập và phát triển, từng bước khắc phục tình trạng các kỹ thuật viên, chuyên gia giỏi của VNPT chuyển sang làm việc cho các doanh nghiệp khác. Đây là kinh nghiệm đáng quan tâm và tiếp tục phát huy trong chiến lược xây dựng nguồn nhân lực của VNPT trong thời gian tới.

VII.              Phát huy truyền thống Bưu điện, sức mạnh đoàn kết, sự thống nhất ý chí và hành động

Lịch sử hình thành và phát triển các thời kỳ cho thấy, nhờ đoàn kết, cộng đồng trách nhiệm mà Bưu điện cách mạng Việt Nam đã vượt mọi khó khăn, hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ, không ngừng trưởng thành về mọi mặt. Đoàn kết là truyền thống quý báu của CBCNV bưu điện không chỉ trong gian khó của thời chiến tranh mà cả trong thời kỳ xây dựng đất nước. Đoàn kết chỉ hình thành trên cơ sở tất cả đều nhận thức rõ nhiệm vụ chung, hành động vì lợi ích chung của  doanh nghiệp, của đất nước. Trước hết đoàn kết phải được thể hiện ở cấp lãnh đạo chủ chốt từ lãnh đạo tập đoàn đến lãnh đạo các đơn vị thành viên, đó là những nòng cốt để tập hợp CBCNV; Đoàn kết được tiến hành trên cơ sở giải quyết hài hòa lợi ích, thể hiện ở sự chăm lo, quan tâm sâu sát đến người lao động cả về nhu cầu vật chất và tinh thần của lãnh đạo các cấp…

Thực tế đã minh chứng rất rõ, trong những hoàn cảnh vô cùng khó khăn và trước những thách thức nghiêm trọng là lúc tinh thần đoàn kết thống nhất của toàn thể CBCNV ngành Bưu điện được phát huy cao độ, tạo thành một khối vững chắc, là nguồn sức mạnh to lớn để vươn lên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Những năm tháng chiến tranh kéo dài và khốc liệt, ranh giới giữa sự sống và cái chết hết sức mong manh, toàn Ngành đã chung sức chung lòng, sẵn sàng hy sinh quyền lợi cá nhân để bảo đảm thông tin thông suốt. Những năm đầu đổi mới, giữa một bên là cơ chế cũ, công nghệ truyền thống và một bên là chuyển đổi cơ chế, đổi mới công nghệ, nhờ tinh thần đoàn kết nhất trí và quyết tâm cao độ từ lãnh đạo Tổng cục Bưu điện đến người lao động, Ngành đã có bước bứt phá ngoạn mục, chuyển đổi doanh nghiệp phù hợp với cơ chế thị trường, đi thẳng vào công nghệ số. Những năm đầu thế kỷ 21, trước thách thức mạnh mẽ của hội nhập và cạnh tranh ngày càng gay gắt và sức ép phải duy trì tốc độ tăng trưởng cao từ giai đoạn trước, sự tự tin và quyết đoán của VNPT cũng bắt nguồn sức mạnh từ tinh thần đoàn kết. Điều đó cho thấy, khi niềm tin được củng cố, khi ý chí và hành động thống nhất trên cơ sở phát huy dân chủ, khi sức mạnh đoàn kết được phát huy thì VNPT có đủ bản lĩnh và sức mạnh vượt lên mọi khó khăn, thách thức.

Công tác tuyên truyền giáo dục truyền thống cho mọi CBCNV trong Ngành luôn được VNPT coi trọng và thực hiện thường xuyên, liên tục, sát với từng đối tượng, gắn liền với thực tiễn và quá trình thực hiện nhiệm vụ chính trị của từng đơn vị, kết hợp nâng cao nhận thức với tính tự giác rèn luyện bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức của từng cá nhân. Nhờ vậy các thế hệ CBCNV không ngừng nâng cao ý thức tự giác trong việc giữ gìn và phát huy truyền thống vẻ vang, được bồi đắp lòng tự hào, niềm tin vào tương lai của VNPT, của ngành Bưu chính Viễn thông Việt Nam. Từ nhận thức sâu sắc bề dày truyền thống và lịch sử Ngành, mỗi CBCNV vận dụng sáng tạo hơn những phẩm chất cao đẹp của truyền thống để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, góp phần xây dựng Ngành xứng đáng là một trong những ngành đi đầu trong sự nghiệp đổi mới, CNH-HĐH.

Sự đoàn kết thống nhất không chỉ dừng lại ở tình cảm, tinh thần mà quan trọng còn phải bằng ý chí, được bảo đảm  bằng sự phân công hợp lý công việc và quyền lợi. Điều đó được thể hiện ở chỗ trong những lúc khó khăn nhất như quá trình chia tách bưu chính viễn thông, lãnh đạo VNPT vẫn sắp xếp hợp lý, ổn định các vị trí công việc, không ảnh hưởng đến tâm tư tình cảm của CBCNV, không xáo trộn đời sống kinh tế. Bên cạnh đó, sự gần gũi, quan tâm, đồng cảm của lãnh đạo các cấp với người lao động, tôn trọng ý kiến, nguyện vọng của người lao động, có cơ chế phát huy quyền dân chủ của mọi cá nhân, đơn vị và đảm bảo nguyên tắc Đảng lãnh đạo, chuyên môn quản lý có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, tăng cường sự đoàn kết, thống nhất… Đặc biệt, VNPT đã dần định hình cơ chế kiểm tra, điều chỉnh khắc phục kịp thời những biểu hiện lệch lạc, tiêu cực để bảo đảm sự phát triển và ngăn ngừa những nguyên nhân gây mất đoàn kết. Sức mạnh của cả hệ thống chính trị đã được huy động cao độ để biến quyết tâm của lãnh đạo Tập đoàn thành ý chí thống nhất xuyên suốt đến từng đơn vị, tổ đội, từng CBCNV.

Trong bối cảnh hiện nay, để củng cố, phát huy tinh thần đoàn kết thì ngoài việc giải quyết những vấn đề về lợi ích, quan tâm đến công tác tư tưởng, thực tế đang đặt ra yêu cầu cần phải phát huy hơn nữa tinh thần dân chủ, chủ động sáng tạo của từng tổ chức, cá nhân và đặc biệt là phải tăng cường tính thống nhất trong đội ngũ lãnh đạo về phương hướng, quan điểm phát triển của Ngành, Tập đoàn trước những khó khăn, thách thức đặt ra.

 

Ý kiến của bạn Gửi cho bạn bè In bài này Trở lại