You are here >   News > Khoa_Hoc_Cong_Nghe > ViewNews
Register   |  Login
Bối cảnh quốc tế và khu vực trong những thập niên tới
Cập nhật ngày: 01/01/1900

II-1. Phát triển khoa học và công nghệ (kh&cn) và giáo dục-đào tạo (gd&đt) 1. KH & CN luôn đổi mới với tốc độ lớn, trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp; trí tuệ và kỹ năng trong nguồn nhân lực có vai trò ngày càng tăng. KH & CN ngày càng trở thành lực lượng nòng cốt và trực tiếp của xã hội, là động lực cơ bản cho sự phát triẻn kinh tế và xã hội. Đây là một xu thế rõ nét bậc nhất của thế giới trong những thập niên đầu của thế kỷ 21. Theo đà phát triển nhanh của KH&CN, các quốc gia đều tiến hành điều chỉnh lại cơ cấu các nghành trong nền kinh tế theo cấu trúc dịch vụ-công nghiệp- nông nghiệp và theo hướng kinh tế tri thức nhằm tạo độ thích nghi cao, tăng thế mạnh cạnh tranh quốc gia trong khu vực và trên thế giới. 2. Hướng tới xã hội thông tin Xu thế hướng tới xã hội thông tin và nền kinh tế tri thức do tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng KH&CN đang tạo ra cơ hội mới cho sự lựa chọn mô hình phát triển của mỗi quốc gia. Một chiến lược phát triển hiệu quả là phải huy động được tối đa năng lực đổi mới của tư duy, tạo ra được những khả năng cảm nhận và khả năng phản ứng thích nghi với môi trường đầy biến động, nhằm đạt được những mục tiêu trên cơ sở phát triển bền vững. 3. Định hướng nhân văn cho sự phát triển và ứng dụng KH&CN. Trong bối cảnh một nền kinh tế phát triển dựa trên cơ sở tri thức với nguồn lực con người có trí tuệ và kỹ năng cao là yếu tố trung tâm và là lợi thế so sánh chủ yếu, thì định hướng lớn nhất của KH&CN phải là `KH&CN vị nhân sinh ` 4. Hướng tới một xã hội học tập thường xuyên, thích nghi và đa dạng hoá Xã hội mới phải hướng tới học tập thường xuyên, trong đó nền giáo dục phải là một hệ thống mở, đa dạng, linh hoạt, hiện đại. 5. Đào tạo nguồn nhân lực có khả năng sáng tạo với định hướng nhân văn 6. Vai trò ngày càng tăng của KH&CN và GD-ĐT trong sức mạnh tổng hợp và năng lực cạnh tranh của quốc gia Trong thời đại ngày nay, nguồn lực trí tuệ, nhất là trong nghiên cứu phát minh, sáng chế, trong quản lý xã hội, và trong quản lý doanh nghiệp, cùng với năng lực và bản lĩnh đổi mới phương thức tư duy, là những yếu tố quan trọng bậc nhất nhằm nâng cao vị thế kinh tế và chính trị của quốc gia trên trường quốc tế. II-2. Triển vọng kinh tế thế giới 1. Xu thế chuyển đổi cơ cấu kinh tế và hướng tới nền kinh tế tri thức Cơ cấu sản xuất và nền tảng của sự tăng trưởng kinh tế ngày càng dựa vào việc ứng dụng KH&CN, nhất là công nghệ thông tin; tỷ trọng GDP hoặc tỷ trọng ngành nghề đều có sự dịch chuyển dần từ sản xuất vật chất sang xử lý thông tin là chủ đạo. Nền kinh tế tri thức sẽ làm cho diện mạo và cơ cấu nền kinh tế thế giới thay đổi một cách căn bản và sâu sắc ở thế kỷ 21. 2. Các phương thức công nghiệp hoá - Công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu - Công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu - Công nghiệp hoá hai giai đoạn theo lợi thế so sánh là quá trình công nghiệp hoá gắn chặt với quá trình thay đổi về lợi thế so sánh của quốc gia: lợi thế tĩnh là tài nguyên thiên nhiên và giá lao động rẻ; lợi thế động là phát triển nguồn nhân lực KH&CN, đi thẳng vào các ngành công nghiệp hiện đại. Đây là mô hình có nhiều ưu thế hiện nay và vào đầu thế kỷ tới, được ứng dụng trong bối cảnh kinh tế thị trường mở, hội nhập quốc tế. 3. Toàn cầu hoá kinh tế - Nền sản xuất mang tính toàn cầu, tự do hoá về thương mại, đầu tư, và tài chính - Hội nhập kinh tế và vai trò của các tổ chức quốc tế Hội nhập là một nội dung quan trọng của toàn cầu hoá (TCH). Hội nhập nhấn mạnh tính chủ động tham gia vào quá trình TCH. - Hình thành các siêu công ty; thương mại điện tử là một `sân chơi ` mới; vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ. - Xu thế khu vực hoá trong bối cảnh toàn cầu; nguy cơ khủng hoảng kinh tế-tài chính. Khu vực hoá là xu hướng vừa thuận chiều, vừa ngược chiều với quá trình toàn cầu hoá. Sự xung đột thương mại giữa các khối trong khu vực hiện đang gia tăng. Xu thế TCH kinh tế với tốc độ vận động cao, cơ hội lựa chọn lớn, nhưng cấu trúc thể chế về luật chơi và bộ máy thực thi ở cấp độ toàn cầu lại chưa hoàn toàn phù hợp nên có thể làm tăng tính bất định của các quá trình kinh tế-tài chính. Đây là nguyên nhân làm tăng khả năng khủng hoảng kinh tế-tài chính, thường xảy ra ở các nước đang phát triển. 4. Triển vọng phát triển kinh tế ở các nước lớn và Liên minh châu Âu (EU) Triển vọng phát triển kinh tế của Mỹ, kinh tế Mỹ đang tăng trưởng khá ổn định trong thập kỷ 1990 và sẽ duy trì được vị trí nổi trội về kinh tế trên thế giới trong hai thập kỷ tới. Tuy tỷ trọng GDP của Mỹ trong GDP toàn thế giới có giảm dần (sau chiến tranh thế giới thứ hai Mỹ chiếm tới khoảng 50% GDP thế giới, tới năm 1998 con số này chỉ còn 25,2% và sẽ giảm xuống 17% vào năm 2020), nhưng trong hai thập kỷ đầu của thế kỷ 21 có thể Mỹ vẫn sẽ là siêu cường duy nhất về các mặt kinh tế, khoa học-công nghệ và quân sự. EU vẫn giữ được vị trí kinh tế-thương mại hàng đầu thế giới của mình và sẽ trở nên mạnh hơn vào đầu thế kỷ 21. EU tuy vẫn là đối thủ cạnh tranh kinh tế đáng gờm của Mỹ, Nhưng do EU không phải là một quốc gia riêng biệt và vẫn tồn tại những hạn chế nên khó có thể vượt được Mỹ về sức mạnh tổng hợp. Triển vọng kinh tế của Liên bang Nga. Thực trạng kinh tế `ảm đạm ` hiện nay là cơ sở cho những dự báo bi quan về tương lai của nước Nga. Tuy nhiên, nhìn về lâu dài, với khả năng sẵn có, nhất lànguồn tài nguyên thiên nhiên khổng lồ chưa khai thác và một đội ngũ cán bộ KH&CN trình độ cao, khoảng 1 triệu người, Nga sẽ khôi phục dần lại vị trí quốc tế và sẽ có ảnh hưởng không nhỏ đến khu vực Châu á-Thái Bình Dương và thế giới. Triển vọng kinh tế Nhật Bản, hiện nay đã trở thành siêu cường kinh tế thứ hai sau Mỹ. Chương trình cải cách cả gói gồm 6 điểm (cải cách hành chính; cải cách cơ chế tài chính; cải cách chế độ bảo hiểm xã hội; cải cách cơ chế kinh tế; cải cách hệ thống tiền tệ và cải cách giáo dục) từ cuối 1997 đã giúp Nhật Bản phục hồi và dự báo vẫn giữ được vị trí kinh tế thứ hai sau Mỹ vaò đầu thế kỷ 21. Triển vọng kinh tế Trung Quốc, tới năm 2020 tổng giá trị GDP sẽ ở vào hàng ngũ 3 nước đứng đầu thế giới, và chỉ đứng sau Mỹ. Hiện nay, Trung Quốc thu hút tới 40% tổng vốn đầu tư nước ngoài (FDI) vào các nước đang phát triển và là nước tiếp nhận FDI lớn thứ hai trên thế giới sau Mỹ. Tuy nhiên, hiện nay GDP của Trung Quốc khoảng 1000 tỷ USD và với kịch bản tốt nhất thì vào năm 2020 con số tương ứng cũng chỉ khoảng 4000 tỷ USD (bằng 1/2GDP của Mỹ hiện nay), về GDP đầu người thì khoảng cách với Mỹ còn lớn hơn nhiều. 5. Triển vọng phát triển kinh tế của khu vực Châu á -Thái Bình Dương và Châu Âu-Đại Tây Dương Khủng hoảng kinh tế Đông á và khả năng phục hồi phát triển. Từ nửa cuối năm 1999, cuộc khủng hoảng đã bị đẩy lùi dần, các nền kinh tế Đông á đã phục hồi nhanh hơn so với dự kiến và đã có giá trị tăng trưởng. Nhiều dự báo cho rằng, trước năm 2002 cuộc khủng hoảng sẽ được khắc phục hoàn toàn và Đông á sẽ đi vào chu kỳ phát triển mới, cao hơn. Tương quan giữa Châu á - Thái Bình Dương và Châu Âu - Đại Tây Dương. Châu á - Thái Bình Dương sẽ là nơi hội tụ của 3 nền kinh tế lớn là Mỹ, Nhật Bản và Trung Quốc, ngoài ra cũng còn một thị trường Đông Nam á với hơn 500 triệu dân. Châu Âu - Đại Tây Dương với liên minh Châu Âu (EU) bước sang thế kỷ 21 với một tầm vóc mới. EU có kết cấu hạ tầng tri thức lớn nhất thế giới, với nguồn nhân lực có học vấn trình độ chuyên môn cao nhất thế giới, có sức sáng tạo văn hoá lớn nhất. Triển vọng kinh tế ASEAN với tầm nhìn ASEAN 2020. Trong những năm trước mắt, thách thức đối với phát triển của ASEAN sẽ lớn vì trình độ phát triển của các nước không đồng đều, sẽ hình thành cơ cấu 2 hoặc 3 nhóm nước với những lộ trình khác nhau trong việc thực hiện AFTA và các thể chế toàn cầu. II-3. Bối cảnh chính trị - an ninh quốc tế 1. Chiến lược của Mỹ, Tây Âu, Trung Quốc, Nhật Bản, Nga Mục tiêu chiến lược đối ngoại của Mỹ là tiếp tục xác lập và duy trì vai trò lãnh đạo đối với thế giới. Ưu tiên hàng đầu trong chiến lược đối ngoại của Mỹ là đại lục Âu - á. EU vẫn tiếp tục phải dựa vào Mỹ thông qua việc duy trì, củng cố, và mở rộng NATO. Mặt khác EU cũng cố gắng giữ quan hệ tương đối cân bằng với Nga và thúc đẩy quan hệ với Trung Quốc. Mục tiêu chiến lược của Nhật Bản là tiếp tục phấn đấu thành một cường quốc toàn diện, tăng vị thế chính trị để bổ sung cho sức mạnh kinh tế, KH&CN, từng bước gia tăng sức mạnh quân sự. Mục tiêu xuyên suốt trong chiến lược đối ngoại của Trung Quốc là trở thành một cường quốc tầm cỡ thế giới; xác lập vai trò nước lớn ở Châu á - Thái Bình Dương và trên toàn cầu. Ưu tiên chiến lược của Nga về cơ bản vẫn sẽ là Mỹ-Tây Âu, SNG; đồng thời chú trọng hơn tới khu vực Châu á - Thái Bình Dương và các địa bàn truyền thống. 2. Chiều hướng quan hệ với các nước lớn và trật tự thế giới Các nước phải duy trì hình thức quan hệ theo dạng vừa hợp tác, vừa đấu tranh, tránh đối đầu quân sự trực tiếp, kiềm chế lẫn nhau trong khung cảnh cùng tồn tại hoà bình chủ yếu bằng trò chơi cân bằng quyền lực. Các kịch bản: Kịch bản đơn cực do Mỹ thống trị, khó thực hiện vì các nước khác đều muốn tìm cách hạn chế tham vọng của Mỹ. Kịch bản hai cực Nga-Trung với cực kia là Mỹ và NATO, khó diễn ra vì hai nước Nga-Trung có mâu thuẫn và cả hai đều cần quan hệ với Mỹ và Châu Âu vì lợi ích của mình. Kịch bản đa cực một siêu nhiều cường, khó thực hiện vì các cường quốc này không thể một mình tập hợp lực lượng như `một cực ` hay `một trung tâm`. Kịch bản quan hệ hợp tác-đấu tranh đan xen đa dang, không theo trật tự nhất định. Sự tập hợp lực lượng diễn ra trên từng loại vấn đề, từng khu vực, từng thời điểm cụ thể. Kịch bản này có khả năng diễn ra trong những năm tới. 3. Chính trị cường quyền và dân chủ hoá quan hệ quốc tế Không phải Mỹ muốn làm gì cũng được, mà chính Mỹ phải cân nhắc nhiều mặt, vấn đề lôi kéo đồng minh ở mức độ nào dó vẫn sử dụng được liên hợp quốc (LHQ). Một cuộc chạy đua vũ trang mới đặc biệt với kỹ thuật cao sẽ là những thách thức rất lớn đối với thế giới trong những năm tới. Các nước lớn ngoài Mỹ và các nước vừa, nhỏ sẽ ra sức đòi hỏi dân chủ hoá mối quan hệ quốc tế, vai trò của LHQ và luật pháp quốc tế cũng sẽ tăng lên. 4. Chiến tranh, hoà bình và an ninh quốc gia Dự báo là trong những thập kỷ tới không nổ ra chiến tranh thế giới, vì vũ khí giết người hàng loạt hiện nay nằm trong tay 7 nước mà không chỉ một nước; không còn sự đối đầu hai phe, hai cực. Xung đột khu vực sẽ còn tiếp diễn do tranh chấp lãnh thổ, mâu thuẫn sắc tộc, tôn giáo và sự can thiệp áp đặt từ bên ngoài. 5. Quan hệ Mỹ - Trung - Nhật - Nga - ấn ở khu vực Châu á - Thái Bình Dương Quan hệ Trung - Mỹ vẫn đóng vai trò quan trọng bậc nhất Kịch bản đa dạng hoá, có nhiều khả năng xảy ra nhất, vì các nước lớn này cần phải duy trì môi trường hoà bình để phát triển kinh tế -Kịch bản hai cực: liên minh Nhật - Mỹ và bên kia là liên minh tay ba Trung-Nga-ấn, khả năng xảy ra rất nhỏ vì cả Trung, Nga, ấn đều muốn thúc đẩy quan hệ với Mỹ và cạnh tranh với nhau để dành một vị thế tốt hơn trong quan hệ quốc tế; và giữa họ còn tồn tại mâu thuẫn. `Kịch bản hỗn hợp ` Mỹ Trung hợp tác chi phối khu vực, khả năng này xảy ra không lớn vì Mỹ và Trung Quốc có nhiều mâu thuẫn, nhưng cần lưu ý đến những biến thái của kịch bản này. 6. An ninh khu vực Châu á -Thái Bình Dương và vai trò của ASEAN Khó có khả năng xảy ra các xung đột lớn giữa các nước lớn ở Châu á- Thái Bình Dương. ASEAN-10 tạo thuận lợi mới cho việc duy trì ổn định, hợp tác để phát triển, nâmg cao vị trí quốc tế của Đông Nam á. ASEAN có thể sẽ bị phân hoá, nhiều nước sẽ đi theo mô hình của phương Tây về cả kinh tế và chính trị. II-4. Những vấn đề xã hội 1. Phát triển bền vững , hài hoà giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế và các mặt môi trường sinh thái-bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, và các mặt tiến bộ - công bằng xã hội. - Kiểm soát tỷ lệ tăng dân số hợp lý là một trong các biện pháp cơ bản bảo đảm cho sự phát triển bền vững. Vấn đề việc làm, giàu nghèo và công bằng xã hội. Vấn đề việc làm ở các nước đang phát triển sẽ gay gắt hơn trong hai thập kỷ tới do tác động của chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng kinh tế tri thức, cạnh tranh toàn cầu khốc liệt hơn và sự bần cùng hoá tương đối cả về mức sống, chất lượng sống và tri thức đối với đại đa số dân cư. - Xu hướng gia tăng sự bất bình đẳng xã hội. 1960 tỷ số khoảng cách giữa các nước giàu nhất với các nước nghèo nhất chỉ là 30: 1, tới năm 1990 là 60:1 và đã là 74: 1 vào năm 1997. - Tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái, nguồn gốc thật sự của các vấn đè môi trường có liên quan đến sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế, sự cạnh tranh giữa các thị trường trên thế giới, mối quan hệ giữa các nước, vấn đề nợ nước ngoài và tình trạng đói nghèo, lạc hậu ở các nước kém phát triển. - An ninh lương thực, trái đất đang tiềm ẩn những nguy cơ nghiêm trọng đe doạ đến an ninh lương thực vào đầu thế kỷ 21. - Chống tội phạm và các tệ nạn xã hội xuyên quốc gia vì một xã hội toàn cầu công bằng hơn, hài hoà hơn, an toàn hơn để có thể phát triển bền vững. 2. Giao lưu văn hoá và giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc Một nền văn hoá đóng kín sẽ khô cằn và dẫn tới tình trạng lạc hậu, kém phát triển. Chỉ có tăng cường giao lưu thì văn hoá dân tộc mới có thể phát triển, trở nên phong phú. Một mặt, cần tích cực và chủ động hội nhập quóc tế nhằm tiếp thu những tinh hoa văn hoá, tri thức của nhân loại; đồng thời, không để hoà tan, đánh mất bản sắc, bị nhấn chìm trong vòng xoáy của những nền văn hoá và hệ giá trị đạo đức ngoại lai, xa lạ với những truyền thống tốt đẹp của mỗi dân tộc. Nếu có chính sách phù hợp, truyền thống văn hoá dân tộc sẽ là động lực hình thành nên tinh thần dân tộc, vươn lên mạnh mẽ trên con đường hiện đại hoá đầy thách thức vào đầu thế kỷ tới.

Ý kiến của bạn Gửi cho bạn bè In bài này Trở lại