You are here >   News > Khoa_Hoc_Cong_Nghe > ViewNews
Register   |  Login
Khái niệm chung về năng lực và những yêu cầu năng lực của người lãnh đạo quản lý
Cập nhật ngày: 01/01/1900

1. Khái niệm chung về năng lực Theo quan điểm của những nhà tâm lý học Năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu đạc trưng của một hoạt động, nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao. Các năng lực hình thành trên cơ sở của các tư chất tự nhiên của cá nhân nới đóng vai trò quan trọng, năng lực của con người không phải hoàn toàn đo tự nhiên mà có, phần lớn do công tác, do tập luyện mà có. Tâm lý học chia năng lực thành các dạng khác nhau như năng lực chung và năng lực chuyên môn. - Năng lực chung là năng lực cần thiết cho nhiều ngành hoạt động khác nhau như năng lực phán xét tư duy lao động, năng lực khái quát hoá, năng lực lát tập, năng lực tưởng tưởng - Năng lực chuyên môn là năng lực đặc trưng trong lĩnh vực nhất định của xã hội như năng lực tổ chức , năng lực âm nhạc, năng lực kinh doanh, hội hoạ, toán học... Năng lực chung và năng lực chuyên môn có quan hệ qua lại hữu cơ với nhau, năng lực chung là cơ sở của năng lực chuyên luôn, nếu chúng càng phát triển thì càng dễ thành đạt được năng lực chuyên môn. Ngược lại sự phát triển của năng lực chuyên môn trong những điều kiện nhất định lại có ảnh hưởng đối với sự phát triển của năng lực chung. Trongg thực tế mọi hoạt động có kết quả và hiệu quả cao thì mỗi người đều phải cớ năng lực chung phát ttriểnl ở trình độ cần thiết và có một vài năng lực chuyên môn tương ứng với lĩnh vực công việc của mình. Những năng lực cơ bản này không phải là bẩn sinh, mà nó phải được giáo dục phát triển và bồi dưỡng ở con người. Năng lực của một người phối hợp trong mọi hoạt động là nhờ khả năng tự điều khiển, tự quản lý, tự điều chỉnh ở lỗi cá nhân được hình thành trong quá trình sống và giáo dục của mỗi người. Năng lực còn được hiểu theo một cách khác, năng lực là tính chất tâm sinh lý của con người chi phối quá trình tiếp thu kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo tối thiểu là cái mà người đó có thể dùng khi hoạt động. Trong điều kiện bên ngoài như nhau những người khác nhau cớ thể tiếp thu các kiến thức kỹ năng và kỹ xảo đó với nhịp độ khác nhau có người tiếp thu nhanh, có người phải mất nhiều thời gian và sức lực mới tiếp thu được, người này có thể đạt được trình độ điêu luyện cao còn người khác chỉ đạt được trình trung bình nhất định tuy đã hết sức cố gắng. Thực tế cuộc sống có một số hình thức hoạt động như nghệ thuật, khoa học, thể thao ... Những hình thức mà chỉ những người có một số năng lực nhất đinh mới có thể đạt kết quả. Để năm được cơ bản các dấu hiệu khi nghiên cứu bản chất của năng lực ta cần phải xem xét trên một số khía cạnh sau: - Năng lực là sự khác biệt tâm lý của cá nhân người này khác người kia, nếu một sự việc thể hiện rõ tính chất mà ai cũng như ai thì không thể nói về năng lực. - Năng lực chỉ là những khác biệt có liên quan đến hiệu quả việc thực hiện một hoạt động nào đó chứ không phải bất kỳ những sự khác nhau cá biệt chung chung nào. - Khái niệm năng lực không liên quan đến những kiến thức kỹ năng, kỹ xảo đã được hình thành ở một người nào độ. năng lực chi làm cho việc tiếp thu các kiến thức kỹ năng, kỹ xảo trở nên dễ đàng hơn. - Năng lực con người bao giờ cũng có mầm mống bẩm sinh tuỳ thuộc vào sự tổ chức của hệ thống thần kinh trung ương, nhưng nó chỉ được phát triển tróng quá trình hoạt động phát triển của con người, trong xã hội có bao nhiêu hình thức hoạt động của con người thì cũng cô bấy nhiêu loại năng lực có người có năng lực về điện, có người có năng lực về lái máy bay, có người có năng lực về thể thao ... Năng lực của người lãnh đạo quản lý chính là năng lực tổ chức, Lê nin đã vạch ra đầy đủ cấu trúc của năng lực tổ chức chỉ ra những thuộc tính cần thiết chơ người cán bộ tổ chức là bất cứ người lãnh đạo nào cũng cần phải có: ``Sự minh mãn và tài xắp xếp công việc`` ``sự hiểu biết `mọi người`` - tính cởi mở hay là năng lực thâm nhập vào các nhóm người`` `` sự sắc sảo về trí tuệ và óc tháo vát thực tiễn`` ``các phẩm chất ý chí`”, ``Khả năng hiểu biết mọi người và kỹ năng tiếp xúc với con người``. Do đó khi xem xét kết quả công việc của một người cần phân tích rõ những yếu tố đã làm cho cá nhân hoàn thành công việc, người ta không chỉ xem cá nhân đó làm gì, kết quả ra sao mà còn xem làm như thế nào chính năng lực thể hiện ở chỗ người ta làm tốn ít thời gian, ít sức lực của cải vật chất mà kết quả lai tốt. Cần phân biệt năng lực với trí thức, kỹ năng, kỹ xảo. - Trí thức là những hiểu biết thu nhân được từ sách vở, từ học hỏi và từ kinh nghiệm cuộc sống của mình. . - Kỹ năng là sự vận dụng bước đầu những kiến thức thu lượm vào thức tế để tiến hành một hoạt động nào đó. - Kỹ xảo là những kỹ năng được lắp đi lặp lại nhiều lần đến mức thuần thục cho phép con người không phải tập trung nhiều ý thức và việc mình đang làm. Còn năng lực là một tổ hợp phầm chất tương đối ổn đinh, tương đối cơ bản của cá nhân, cho phép nó thực hiện có kết quả một hoạt động, do đó người có trình độ học vấn cao đại học, trên đại học hoặc có nhiều kinh nghiệm sống do công tác lâu năm và kinh qua nhiều cương vị khác nhau nhưng văn có thể hiểu năng lực cần thiết của người lãnh đạo quản lý như năng lực tổ chức, năng lực trí tuệ ...) Nếu chỉ căn cữ vào bằng cấp hay quá trình công tắc mà đề bạt một cán bộ là chưa đủ, chỉ có căn cứ và hiệu quả hoàn thành nhiệm vụ được giao để đánh giá năng lực cán bộ đảng viên thì mới đúng đắn, điều đó đã được Đảng cộng sản Việt Nam khẳng định, tuy nhiên cũng cần thấy rằng giữa năng lực và tri thức, kỹ năng, kỹ xảo cồ quan hệ mật thiết với nhau, năng lực tư duy không thể phát triển cao ở người có trình độ học vấn thấp. Năng lực tổ chức không thế có được ở người chưa hề quản lý, điều hành một đơn vị sản xuất, kinh doanh cụ thể do vậy khi đánh giá năng lực của một cán bộ cần phải căn cứ vào hiệu quả sản xuất hoàn thành công việc là chính, đồng thời cũng cần biết được trình độ học vấn và quá trình công tắc của người đó nữa.2. Những yêu cầu về năng lực của người lãnh đao quản lý hiện nay. Theo các nhà tâm lý học thì năng lực của các nhà lãnh đạo quản lý là cơ chế thực tại của trí tuệ, đầu óc thực tế đó có khả năng tư duy trực giác. Chẳng hạn là một cán bộ lãnh đạo quản lý của một doanh nghiệp cần phải có óc quan sát, sự chú ý, khả năng học tập, khả năng kinh doanh. Năng lực chuyên môn cần thiết.năng lực tổ chức, năng lực trí tuệ của người lãnh đạo đặc biệt trong doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thì năng lực sản xuất và năng lực kinh doanh cần phải đặc biệt chú trọng. Người đứng đầu một cơ sở kinh doanh trong các thành phần kinh tế nói chung và doanh nghiệp nhà nước nói riêng đều là người đứng mũi chịu sào trước mới thành bại của đơn vị lãnh, chịu trách nhiệm trước mọi quyết định quản lý đúng, sai hậu quả tốt xấu. Do đó là người lãnh đạo quản lý phải có những phẩm chất và năng lực nhất định, để điều hành cơ sở của mình kinh doanh đúng hướng tuân thủ pháp luận. Nói một cách khác là lãnh đạo quản lý doanh nghiệp cần phải có sự thông minh, phải có khả năng nhìn xa trông rộng, khả năng tiên đoán và phân tích các tỷ vốn để hoạch định cho mình một bước đi trong tương lai. Tuy nhiên, sự thông minh, ở đây với ý nghĩa là một tư chất của một lãnh đạo quản lý doanh nghiệp và không đồng nghĩa với sự học giỏi, sáng dạ hay học vấn cao. Sự thông minh ở một cán bộ lãnh đạo quản lý cần được hiểu, đó là khả năng phản ứng nhanh nhạy, khôn ngoan trước các diễn biến của thị trường, sự thông minh này luôn gắn liền với sự nhạy bén trong việc nắm bắt và khai thác thời cơ, gắn liền với khả năng và sự tưởng tượng phong phú sáng tạo, nhằm đương đầu với những đòi hỏi cấp bách phải xử lý trong quá trình lãnh đạo, quản lý và điều hành sản xuất kinh doanh của nền kinh tế thị trường. Thông minh là một trong những tố chất bám sinh, vô giá của con ngll`ời nói chung, của người lãnh đạo quản lý nói riêng, nó được thể hiện ở các yếu tố sau:* óc quan sát + óc quan sát lâ một thuộc tính cơ bản của năng lực tổ chức ở người lãnh đạo quản lý và đây là kỹ năng để nắm được tình hình chung. Với tầm nhìn bao quát đầy đủ, toàn diện, người lãnh đạo quàn lý sẽ thấy được cái chính, cái chủ yếu, đồng thời thấy được cả cái chi tiết, cục bộ. Chính vì vậy người lãnh đạo quản lý cần có óc quan sát để nhận ra những cái to lớn, cái quan trọng ở một hiện tượng nhỏ, nhằm định hướng một cách chính xác những tình huống không có trong dự kiến sẽ xảy ra. Với óc quan sát tốt người lãnh đạo. quàn lý nhanh chóng tìm ra nguyên nhân những khó khăn và trì tuệ trong công việc.* Tự tin Tự tin là một trong những tố chất hết sức cần thiết đối với con người nói chung và người lãnh đạo quàn lý nói riêng. Trong chúng ta chắc nhiều người đã nghe nói rằng : thất bại sẽ đến với những ai nuôi sẵn ý tưởng thất bại và thành công sẽ đến với những ai tin rằng mình sẽ thành công. Chính vì vậy những ai muốn trở thành người lãnh đạo quản lý cần phải rèn luyện đức tự tin; phát biểu sự bi quan, tự ti thành niềm tin, thành ý chí sắt đá. Tin tưởng là chất xúc tác của trí tuệ. Khi lòng tin nung nấu trong con tin khối óc thì nó sẽ trở thành động lực thúc đẩy cơn người đến quyết tâm. Chính vì thế người ta nói rằng, tin tưởng là một loại thần dược tạo nên sức mạnh để sống và hành động. Nó là khởi điểm để tạo dựng cơ nghiệp, nó cũng là sự hoá giải mọi thất bại, là cơ quan duy nhất của con người tạo nên sức mạnh vạn năng của khối óc vô biên.* ý chí, nghị lực, tính kiên nhẫn và lòng quyết tâm Kinh đoành lập công việc cực kỳ khố khăn và phức tạp, là lĩnh vực hoạt động gắn liền với rủi ro và bất trắc. Vì thế, muốn trở thành người lãnh đạo quản lý phải có ý chí, nghị lực, tính kiên nhẫn và lòng quyết tâm. Khi đã hoạch định một chiến lược kinh doanh thì không bao giờ được phép nghĩ tới sự ``không thể`` hay ``khó lòng đạt được”. Là người lãnh đạo quản lý thì không bao giờ được nản chí, đầu hàng ngoại cảnh, không bỏ dở ý định khi vấp phải những khó khăn và trở ngại nhất thời vì trên thương trường không có ai là chưa nếm mùi thất bại. Bởi vậy nếu có gặp thất bại trong kinh doanh thì người lãnh đạo quản lý cũng nên coi đó là chuyện thường tình, là tạm thời không may và hãy coi thất bại như một kinh nghiệm quý giá, là động lực thúc đẩy khiến ta phải xem xét lại một cách nghiêm túc hành động của mình, để rồi xây dựng cho mình một kế hoạch làm gì, làm thế nào để đi đến thành công. Trong quá trình hành động cần phải luôn hối thúc mình cố gắng không ngừng, bất chấp khó khăn. Tóm lại chỉ có khát vọng, niềm tin, ý chí, nghị lực và lòng quyết tâm mới có thể đưa con người đi đến thành công.* Phong cách người cán bộ lãnh đạo Người lãnh đạo quản lý phải có những phẩm chất chính trị riêng. Phải tự đánh giá được kết quả mình làm về mặt chính trị và xã hội, phải mang lại lợi ích cho nhân đần, từ đó góp phần nâng cao uy tín của Đảng. Phải biết đánh giá con người, đánh giá sự việc theo quan điểm chính trị. Lãnh đạo quản lý phải trong bất kỳ Chỉ thị, Nghị quyết nào của Đảng, đồng thời phải thực hiện bằng được những chỉ thị, nghị quyết của Đảng trong bất kỳ tình huống nào. Người lãnh đạo quàn lý phải hiểu được tâm trạng chính trị của tập thể do mình lãnh đạo và đồng thời phải biết giải quyết mọi vấn đề về mặt chính trị trong doanh nghiệp. Phải có quan điểm sống tích cực, đấu tranh chống lại các hiện tượng tiêu cực, luôn gương mẫu và cồ tinh thần trách nhiệm trong việc tìm cách giải quyết tốt mọi vấn đề chính trị ngay cả trong những điều kiện gặp nhiều khó khăn. . Người lãnh đạo quản lý phải luôn tu dưỡng mình về mặt chính trị, đặc biệt phải chú trọng họct ập chủ nghĩa Mác -Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh vâ đường lối, chính sách của Đảng. Qua đó nâng cao trình độ tư duy chính trị, kinh tế trong sản xuất kinh doanh của mình. Ngoài những tố chất trên người lãnh đạo quản lý còn phải là một nhà ngoại giao thuyết khách. Đó chính là ``sức quyến rũ`` khả năng chế ngự người khác thông qua phong cách của mình, một tư chất không kém phần quan trọng đối với người lãnh đạo quản lý. Phong cách của người lãnh đạo quản lý thường biểu hiện dưới hai hình thức là phong cách .hữu hình và phong cách vô hình. Phong cách hữu hình được biểu lộ thông qua cử chỉ và và hành động mà người ta nhìn thấy, nghe thấy như giọng nói, tiếng cười, cái bắt tay, cách đi đứng...Còn phong cách vô hình phát lộ ra bên ngoài thông qua nhận thức mang tính linh cảm của người khác. Đất nước ta đang bước vào thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá. Những yêu cầu về mặt năng lực của người cán bộ lãnh đạo quản lý trong giai đoạn hiện nay là một vấn đề bức xúc. Những phẩm chất và tài năng của người lãnh đạo quản lý không nói chung chung mà nó phải được thể hiện thành những tiêu chuẩn cụ thể, đó là các tiêu chuẩn cán bộ là cơ sở để đánh giá và bổ nhiệm cán bộ, lấy tài năng và hiệu quả làm thước đo trong đó coi trọng năng khiếu và sự thể nghiệm trên thực tế . Người cán bộ lãnh đạo quản lý ngày nay phải là người thực sự có năng lực lãnh đạo, đồng thời phải có năng lực chuyên môn cao, năng lực chuyên môn của ngườl lãnh đạo quản lý doanh nghiệp nhà nước phải được thể hiện ở các mặt: * Năng lực về chuyên môn nghiệp vụ phải là người được đào tạo cơ bàn ngành nghề trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh. Là người lãnh dạo quản lý kinh doanh phải thạo nghề, phải am hiểu sâu sắc nhiệm vụ mục trách, biết dồn tiềm lực vào những khâu trọng yếu và sung yếu nhất khi cần thiết, cơ chế thị trường luôn xuất hiện những tình huống mới, thời cơ vận hội mới . Vì vậy ngtlời lãnh đạo phải biết phân biệt, lường trước mọi tình huống có thể xảy và đón bắt những cơ hội tốt cho sản xuất kinh doanh của đơn vị mình, phải biết nghiên cứu thị trường, đường lối phát triển kinh tế, cơ chế chính sách mới của Đảng và nhà nước, thông hiểu pháp luật để đề ra những tình huống chiến lược phát triển kinh doanh sản xuất kinh doanh của đơn vị đồng thời phải biết nắm bắt những sự kiện, hiện tượng xảy ra hàng ngày một cách nhanh chóng bằng việc thu thập thông tin và xử lý các thông tin nhanh một cách khoa học và đề ra các quyết định chính xác kịp thời* Năng lực tổ chức điều hành sản xuất : - Người lãnh đạo quản lý kinh doanh không những có năng lực chuyên môn mà còn phải có năng lực tổ chức một cách có nghệ thuật, bởi vì lãnh đạo là chỉ huy, là điều hành do đó phải có khả năng quan sắt nắm bắt tình hình thị trường, bạn hàng đối thủ, các thay đổi cơ chế quản lý chung, luôn luôn rèn luyện kỹ năng và phải có kiến thức sử dụng người biết tổ chức chỉ đạo bộ máy để thực hiện các quyết định. Biết tổ chức sắp xếp bộ máy chuyên môn, đội ngũ cán bộ KHKT, cán bộ quản lý giúp mình, giải quyết tốt những vấn đề thuộc chuyên môn, nhất là chuyên môn hẹp. Biết phân công nhiệm vụ cho đội ngũ cán bộ quản lý do mình phụ trách và cho cấp dưới thuộc quyền khác trong công việc hàng ngày, phải luôn luôn thực hiện hàng loạt nghĩa vụ cấu thành nội dung hoạt động của bản thân, chỉ huy việc xây dựng kế hoạch, cải thiện cơ cấu vận hành hệ thống quản lý, tổ chức lao động tập thể, sử dụng mọi nguồn tài nguyên để ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất nghiên cứu, ...để đạt đựoc hiệu quả sản xuất nhịp độ sản xuất . Ngoài ra còn phải có nghĩa vụ giáo dục động viên ttr tưởng chính trị để người lao động có thái độ lao động đúng đắn. Chấp hành hành kỷ luật lao động dược thể hiện ở sự quan tâm đến mọi điều kiện lao động, tạo bầu không khí tâm lý lành mạnh cởi mở cho tập thể lao động để họ phấn đấu nâng cao chất lượng sản phẩm tận dụng cơ sở máy móc và mọi tiềm năng năng lực của con người. Nới chung người lãnh đạo quản lý có năng lực tổ chức là người biết kết hợp năng lực tư duy, thực tế với các phẩm chất đạo đức cá nhân và phẩm chất chính trị để tạo nên các đức tính kiên trì, kiên định, dũng cảm tự chủ, nhìn nhận sự vật hiện tượng một cách khách quan, dám nhìn thẳng vào sự thật, dám làm, dám chịu trách nhiệm nhằm đảm bảo cho kết quả của tư duy thành hiện thực một cách nhanh chóng chính xác.* Năng lực sư phạm Người lãnh đạo, quản lý điều hành doanh nghiệp còn phải có năng lực sư phạm bởi vì năng lực sư phạm là hệ thống những đặc điểm tâm lý cá nhân đảm bảo cho nhà quản trị có những ảnh hưởng tích cực trên phương diện giáo dục đối với các nhân viên dưới quyền và cả những thành viên khác trong doanh nghiệp. Sở dĩ nhà quản trị phải có khả năng sư phạm là do tập thể lao động kinh doanh nghiệp là một nhóm không thống nhất, không phải mọi người đều được giáo dục đào tạo một cách đầy đủ toàn điện như nhau. Vì vậy người quản trị phải có sự giám sát đặc điểm tinh tế mới hiểu được ưu khuyết điểm của mỗi cá nhân, những khó khán mà họ vấp phải cũng như khả năng hay đinh hướng nghề nghiệp của mỗi người, có khả năng sư phạm người lao động quản lý dễ dàng truyền đạt những mệnh lệnh, phương hướng, định hướng, quyết định của mình một cách nhanh chóng rõ ràng dễ hiểu, làm cho người nghe, người dưới quyền hiểu rõ ràng chính xác không sai lệch để nghiêm túc thực hiện một cách nhanh chóng. Người cán bộ lãnh đạo quản lý còn phải là người có hiểu biết về tâm lý để đi sâu vào hiểu biết tâm tư tình cảm của người lao động để động viên họ phấn khởi hăng say công tác yếu tố tâm lý ngày càng tác động mạnh mẽ lên người lao động, nó là động lực kích thích con người hoạt động khi được giải quyết thoả đáng những quyền lợi, vật chất tinh thần, nó không chỉ chú ý đến bản thân người lao động mà còn là sự quan tâm đến điều kiện sống, tương lai và gia đình họ, sự hiểu biết sâu sắc về tâm lý con người thì sự khích.lệ, động viên, quan tâm và sự công bằng của người lao động quản lý đúng chỗ sẽ là động lực.

Ý kiến của bạn Gửi cho bạn bè In bài này Trở lại